Một thời vững tay cày, chắc tay súng

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ hơn 20 năm là một bản hùng ca của những con người huyền thoại, của tình ruột thịt Bắc - Nam và tinh thần đoàn kết, ý chí sắt đá, sự bền bỉ của một dân tộc yêu chuộng hòa bình, không bao giờ bị khuất phục trước mọi kẻ thù. Những năm tháng ác liệt ấy, miền Nam đau thương trong chiến tranh lửa đạn; miền Bắc vừa bước ra từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khó khăn trăm bề, nhưng vẫn là hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. 
g

Xã viên HTX Việt Hòa làm cỏ và bón phân cho lúa mùa (1971)

                                                                            (Nguồn TTXVN)

Trong tâm tưởng của những người đã từng trải qua những năm tháng hào hùng đó, chiến tranh không chỉ là sự đau thương, mất mát, mà vượt lên trên hết là tinh thần đoàn kết, sẻ chia, ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam.

Nhớ lại những ngày cả miền Bắc hướng về miền Nam ruột thịt, trong ký ức của Anh hùng Lao động trên mặt trận thủy lợi Phạm Thị Vách, ở thị trấn Lương Bằng (Kim Động), khí thế hừng hực trong lao động, sản xuất trên những cánh đồng, sự quyết tâm của xã viên, nông dân vẫn còn vẹn nguyên.

 

Nữ anh hùng Phạm Thị Vách kể: “Hợp tác xã Đông Hạ, xã Hùng Cường, Kim Động, (nay thuộc thành phố Hưng Yên) thành lập khoảng năm 1959. Lúc đó tôi là trưởng ban kiểm soát, sau này là chủ nhiệm hợp tác xã. Ngay từ khi thành lập, khoảng 70% số hộ vào hợp tác xã. Xã Hùng Cường nằm ngoài đê sông Hồng. Đồng đất bãi mùa vụ quanh năm. Cây đay, cây mía, ngô là cây trồng chính. Sản xuất thủ công, manh mún. Nhưng sức mạnh tập thể đã khiến vùng đất bãi 4 mùa vẫn lên xanh, mọi nhà vẫn nuôi lợn để nâng cao đời sống và để chi viện cho miền Nam. Mỗi người làm việc bằng hai để chi viện cho chiến trường miền Nam. Mỗi lần đến ngày giao nộp lương thực, thực phẩm, xe bò, xe kéo tấp nập chở hàng chờ đến lượt cân. Nhiều gia đình xung phong nộp nhiều hơn chỉ tiêu giao”.

 
Thực hiện kinh tế tập thể mà cụ thể là kinh tế hợp tác xã không chỉ mang lại niềm tin của nhân dân vào tập thể, mọi xã viên đều có ruộng sản xuất, đều lao động, chia công. Kinh tế tập thể còn tạo một sức mạnh tổng hợp to lớn để tăng cường sản xuất tạo ra của cải vật chất, đóng góp nghĩa vụ với Nhà nước, góp phần vào đại thắng 30.4.1975, thống nhất đất nước. 
 
Những năm tháng gian khổ ấy, ở chiến trường, bộ đội ta và nhân dân miền Nam cầm súng chiến đấu anh dũng, đồng bào miền Bắc cũng chắc “tay cày, tay súng”, “tay bút, tay súng”, “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang”. Hàng chục vạn phụ nữ viết đơn đăng ký “ba đảm đang”. Ở lại hậu phương, phụ nữ đảm nhận các công việc thay chồng thay con và hàng nghìn phụ nữ xung phong tập cày, tập bừa. Hầu hết các địa phương đều có những công trình phụ nữ đảm nhận như đường cày ba đảm đang, ruộng ba đảm đang.
 
Bà Trần Thị Thoi, xã Thiện Phiến (Tiên Lữ) tham gia đội nữ du kích Hoàng Ngân từ những ngày kháng chiến chống Pháp. Tinh thần yêu nước vẫn theo bà khi miền Nam vẫy gọi. Bà kể: “Ngày ấy, chúng tôi lao động hăng say lắm, ngày làm chưa xong thì tranh thủ làm đêm, chỉ mong sao có nhiều thóc để gửi cho đồng bào miền Nam, đánh thắng giặc Mỹ”.
 
Từ đông xuân 1964-1965 và xuân - hè 1965, chiến lược chiến tranh đặc biệt bị phá sản, Mỹ triển khai chiến tranh cục bộ ở miền Nam và chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Trước diễn biến mới, Trung ương xác định nhiệm vụ của miền Bắc vừa tiếp tục đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa kiên quyết đánh bại chiến tranh phá hoại của địch, dốc lòng, dốc sức cùng đồng bào miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ. Ở Hưng Yên từ đầu năm 1965, máy bay địch liên tiếp xâm phạm vùng trời. Khắp nơi dấy lên các cao trào “tay cày, tay súng”, “tay búa, tay súng” tạo khí thế mới nhằm thực hiện thắng lợi  nhiệm vụ sản xuất và chiến đấu. Các công trường Quân - đoàn tham gia xây dựng các công trình vừa phục vụ chiến đấu, vừa phục vụ sản xuất. Hàng vạn dân quân, thanh niên với khí thế quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược lại rầm rộ ra quân làm thủy lợi kết hợp công trình phòng thủ theo kế hoạch phòng thủ cơ bản của tỉnh. Tại huyện Mỹ Hào, nhiệm vụ sản xuất luôn được coi trọng. Phong trào thi đua 5 tấn, 7 tấn của đoàn thanh niên, cánh đồng 5 tấn, 6 tấn của hội phụ nữ và những ruộng lúa cao sản, tăng sản đã thu hút đông đảo cán bộ, đảng viên và xã viên hợp tác xã tham gia. Nhiều thửa ruộng khoai lang 10 tấn, 12 tấn của xã viên hợp tác xã vùng màu đã xuất hiện. 
 
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 thắng lớn. Tinh thần và khí thế Mậu Thân thúc đẩy mạnh mẽ quân và dân Hưng Yên quyết tâm chi viện cao nhất, đẩy mạnh sản xuất và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc. Vụ lúa xuân 1968 được gieo cấy đúng thời vụ, vượt diện tích. Năm 1968, Hưng Yên và Hải Dương hợp nhất tạo thành tỉnh lớn, sản xuất lúa gạo lớn nhất châu thổ Bắc bộ; năng suất đạt đến 5 tạ/ha vào năm 1972, càng đóng góp nhiều hơn cho Nhà nước.
 
Tổng kết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng bộ, nhân dân tỉnh Hưng Yên đã làm nghĩa vụ hàng vạn tấn lương thực, hàng vạn tấn thực phẩm với Nhà nước. Trong hàng vạn tấn lương thực, thực phẩm đó là tinh thần vượt lên bao khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, lao động quên mình, vừa chiến đấu, vừa sản xuất, vừa chi viện cho miền Nam, góp phần cùng cả nước làm nên đại thắng của dân tộc của Đảng bộ và nhân dân Hưng Yên.
 
Đ.D
 
;