Trung tướng Nguyễn Hòa từ trần

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và gia đình vô cùng thương tiếc báo tin:
Trung tướng Nguyễn Hòa (bí danh: Trần Doanh), sinh ngày 15.2.1927; quê quán: thôn Ngọc Lịch, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên; thường trú tại số 4 lô 15C, đường Trung Yên 11, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội; tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1944, vào Đảng tháng 1.1946; Ủy viên Trung ương Đảng các khóa V, VI; Đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII; nguyên quyền Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách Quốc hội, nguyên Tư lệnh Quân đoàn 1, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam). Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Nhất, Huân chương Hữu nghị của Liên Xô, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và nhiều danh hiệu cao quý khác.
Sau một thời gian lâm bệnh, mặc dù đã được Đảng, Nhà nước, Quân đội, gia đình và tập thể giáo sư, bác sĩ, y tá hết lòng chăm sóc cứu chữa, song do tuổi cao, sức yếu, đồng chí đã từ trần hồi 7 giờ 30 phút ngày 27.2.2014 (tức ngày 28 tháng Giêng năm Giáp Ngọ) tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108.
Lễ tang đồng chí Trung tướng Nguyễn Hòa được tổ chức theo nghi thức lễ tang cấp cao, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chủ trì. Lễ viếng từ 8 giờ 00 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 6.3.2014 tại nhà tang lễ Quốc gia số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu và đưa tang từ 10 giờ 30 phút đến 11 giờ 5 phút cùng ngày. An táng tại nghĩa trang quê nhà: thôn Ngọc Lịch, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên.

Tiểu sử đồng chí Trung tướng Nguyễn Hòa

Đồng chí Trung tướng Nguyễn Hòa bí danh Trần Doanh.
Sinh ngày: 15.2.1927, quê quán: Thôn Ngọc Lịch, xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Thường trú tại số 4 lô 15C, đường Trưng Yên 11, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội; cán bộ lão thành cách mạng; nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V, khóa VI; đại biểu Quốc hội các khóa VII, khóa VIII; nguyên quyền Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách Quốc hội; cố vấn cao cấp của Quốc hội; nguyên Tư lệnh, Phó Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1, nguyên Tổng cục trưởng, Bí thư ban cán sự đảng Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt Việt Nam (nay là Tập đoàn Dầu khí Việt Nam).

 

Quá trình hoạt động cách mạng

Từ năm 1944 đến tháng 1.1945 đồng chí hoạt động cách mạng trong phong trào học sinh Trường trung học Đỗ Hữu Vị, Hà Nội và Hưng Yên.
Từ tháng 1.1945 đến tháng 8.1945 đồng chí bị địch bắt ở Hưng Yên, giam ở nhà lao Hưng Yên rồi đưa về Sở Liêm phóng Hà Nội. Khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9.3.1945) đồng chí vượt ngục về Hưng Yên tiếp tục hoạt động trong phong trào học sinh; tham gia tự vệ chiến đấu, cướp chính quyền tại Văn Lâm, Hưng Yên.
Từ tháng 9.1945 đến tháng 6.1954 đồng chí trải qua các vị trí công tác phụ trách phân khu Phúc - Vĩnh Yên, Trường Quân chính, Chánh văn phòng Khu quân sự đặc biệt Hà Nội, tiểu đoàn trưởng, trung đoàn trưởng Trung đoàn 48, Sư đoàn 320 (Đại đoàn đồng bằng). Tham gia các chiến dịch tại đồng bằng Bắc bộ.
Từ tháng 7.1954 đến tháng 2.1956 đồng chí được cử tham gia học Lớp trung cao quân chính Bắc Sơn.
Từ tháng 3.1956 - 8.1959 đồng chí được phân công giữ các chức vụ Tham mưu trưởng Sư đoàn 304, Ủy viên Đảng ủy Sư đoàn, Sư đoàn phó kiêm Tham mưu trưởng rồi Sư trưởng Sư đoàn 320, Thường vụ Đảng ủy Sư đoàn.
Từ tháng 9.1959 - 7.1963 đồng chí được cử đi học tiếng Nga và đi học tại Học viện Quân sự Vô-rô-si-lốp, Liên Xô.
Từ tháng 8.1963 đến 1974 đồng chí đã được cử tham gia đảm nhiệm các chức vụ Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng chiến dịch Bình Giã miền Đông Nam bộ, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 5, Sư đoàn 7 Mặt trận miền Nam. Đại tá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 320, Phó Tư lệnh Quân khu 4 kiêm Tư lệnh mặt trận đường 9 Khe Sanh, Phó Tư lệnh Đoàn 559 kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam quân khu Nam Lào, Phó Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, đảng ủy viên mặt trận, Phó Tư lệnh, Đảng ủy viên Quân khu 5, Thiếu tướng, Tư lệnh, Phó Bí thư Đảng ủy Quân đoàn 1.
Sau khi tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng chí tiếp tục giữ chức Tư lệnh Quân đoàn 1, Phó Bí thư Đảng ủy đến hết tháng 12.1979.
Năm 1974 đồng chí được phong quân hàm Thiếu tướng, tháng 1.1980 đồng chí được phong quân hàm Trung tướng.
Từ năm 1980 đến 1988 là Trung tướng, biệt phái giữ chức Tổng cục trưởng, Bí thư Ban cán sự Đảng Tổng cục Dầu mỏ và khí đốt.
Từ tháng 8.1988 đến tháng 6.1992 đồng chí là đại biểu Quốc hội và là Ủy viên Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội; tháng 1.1990 đồng chí được bổ nhiệm là quyền Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội khóa VIII, rồi cố vấn cao cấp của Quốc hội.
Đồng chí là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa V, VI. Đồng chí là đại biểu Quốc hội khóa VII, khóa VIII, quyền Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế, Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội khóa VIII.
Đồng chí được nghỉ hưu tháng 7.1999.
Do có nhiều công lao và thành tích đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và quân đội, đồng chí đã được tặng thưởng: Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng 2 và ba; Huân chương Chiến sĩ giải phóng hạng 1, 2, 3; Huân chương Chiến sỹ vẻ vang hạng 1, 2, 3; Huân chương Hữu nghị của Liên Xô; Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng và nhiều huân huy chương khác.
 

;