Đồng chí Nguyễn Văn Linh với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế

Năm tháng qua đi, thế hệ sau mới nhận thức và đánh giá hết được những quyết định có tính lịch sử của các nhà chính trị. Nhìn từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông và nhìn vào những thành quả mà các quốc gia, các dân tộc đạt được trong những năm tháng dựng xây đất nước, mới thấu hết tính vĩ đại của những quyết sách có tính chiến lược. Những quyết sách sáng suốt đó đã đưa cả một dân tộc, một đất nước nghèo nàn, lạc hậu bứt phá đi lên trở nên giàu có và văn minh. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một trong những con người như thế.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ 6 ngày 18/12/1986. (Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đọc diễn văn bế mạc Đại hội Đảng lần thứ 6 ngày 18/12/1986. (Ảnh: Minh Đạo/TTXVN)
Trước những năm đổi mới, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã bộc lộ nhiều yếu kém trên mọi mặt như: sản xuất đình đốn, thương mại trì trệ, năng suất lao động thấp, tốc độ tăng trưởng kinh tế hầu như rất thấp, lực lượng sản xuất lạc hậu… làm cho đất nước đã đói nghèo, càng đói nghèo hơn. Nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp đã không còn phát huy được động lực cho phát triển, đã bắt đầu xuất hiện nguy cơ đình đốn, suy sụp, tính khoa học, tính hiệu quả hầu như không có, sinh khí cho một nền kinh tế sống động hầu như đã tắt, tiêu cực phát sinh như nấm. Biểu hiện cụ thể là sản xuất vật chất đứng chân tại chỗ, không có tiến bộ là bao, công nghệ và kỹ thuật lạc hậu. Trình độ kinh tế không vượt qua được trình độ kinh tế tiểu nông nửa phong kiến. Có thể nói, trước những năm đổi mới, đất nước Việt Nam đã nằm trong tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, sản xuất trì trệ, kinh tế suy kém, đói khổ tràn lan (hơn 7 triệu người thiếu đói), lòng dân ly tán, niềm tin thì giảm sút, các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của kế hoạch 5 năm (1981-1985) đều không đạt, nhiều lĩnh vực mức tăng trưởng âm, lạm phát tăng phi mã ở mức ba con số.
 
Cùng với những khó khăn nêu trên, trong thời điểm trước đổi mới, tình hình Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu có nhiều diễn biến phức tạp, tình hình thế giới có nhiều biểu hiện ngày càng xấu, bất lợi cho Việt Nam. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đang đứng trước khả năng bị sụp đổ. Viện trợ của Liên Xô mạnh. Nền kinh tế Việt Nam đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
 
Trước tình trạng nền kinh tế đói kém, lạc hậu và chậm phát triển như vậy, tại Đại hội VI năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trao trách nhiệm cho đồng chí Nguyễn Văn Linh làm Tổng Bí thư của Đảng. Với cương vị mới, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn nước ta. Đồng chí Nguyễn Văn Linh với chương vị là người cầm lái số một của con thuyền cách mạng Việt Nam, người lãnh tụ đứng đầu toàn Đảng ta đã hoàn thành xuất sắc trọng trách của mình trong những năm đầu của công cuộc đổi mới đất nước, một thời điểm cực kỳ khó khăn đầy bất ổn. Đóng góp đầu tiên của đồng chí cùng với toàn Đảng là tiến hành từ bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp để chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa một cách sáng suốt. Xuất phát điểm của tiến trình đó là việc đổi mới tư duy của Đảng ở Đại hội lần thứ VI, trong đó có đỏi mới tư duy và nhận thức và mô hình kinh tế Việt Nam.
 
Nhìn lại lịch sử những năm tháng lãnh đạo đất nước của đồng chí Nguyễn Văn Linh, càng cho chúng ta thấy những đóng góp vô cùng to lớn của đồng chí. Sau Đại hội VI, tình hình đất nước ta lúc đó đã khó khăn càng khó khăn hơn. Bên cạnh viện trợ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu cho Việt Nam bị cắt giảm dần đến không còn, là sự bao vây, cấm vận của các nước và các thế lực thù địch nên các hoạt động ngoại thương, xuất nhập khẩu bị thu hẹp và đình đốn. Việt Nam đã khó khăn lại thêm bị bao vây, cô lập nên tình hình có thể nói ngàn cân treo sợi tóc. Trước tình hình đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh cùng với Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy đổi mới thì sống, không đổi mới thì chết. Tuy nhiên, câu hỏi lúc đó đặt ra đổi mới thế nào để bảo đảm thắng lợi. Thực tế tình hình vào những năm đầu đổi mới cũng đã có nhiều ý kiến cho rằng cần đổi mới mạnh mẽ (đi cả hai chân), đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị. Nhưng với sự lựa chọn bước đi thận trọng, bắt đầu đổi mới kinh tế trước đã được thực tiễn chứng minh sự đúng đắn đó. Đồng thời, với thực tế thất bại và tan rã của Liên Xô và các nước Đông Âu do chính chính sách dân chủ hóa được đưa ra nhưng thiếu những bước đi và giải pháp phù hợp càng minh chứng cho quyết định sáng suốt của đồng chí Nguyễn Văn Linh và của Đảng ta.
 
Đổi mới bắt đầu từ đâu, gỡ rối như thế nào? Làm thế nào để vượt qua được những khó khăn, phức tạp tưởng như không có đường ra đã đặt lên vai đồng chí Nguyễn Văn Linh một trọng trách to lớn, quan trọng và nặng nề với cương vị là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong quá trình suy nghĩ tìm khâu đột phá của đổi mới, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã chọn vấn đề phân phối, lưu thông là khâu đầu tiên và làm chủ đề chính để Hội nghị Trung ương 2 khóa VI thảo luận. Trong Hội nghị này, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã chỉ rõ: “Giải quyết vấn đề phân phối, lưu thông có liên chặt chẽ với quá trình sản xuất, với tổng thể cơ chế quản lý nền kinh tế quốc dân… Làm được việc đó, chắc chắn sẽ là bước khởi đầu tốt đẹp, tạo đà chuyển biến mạnh mẽ cho những bước sau”. Với tư duy như vậy, Hội nghị Trung ương 2 khóa VI đã đi tới thống nhất lấy phân phối, lưu thông làm khâu đột phá đầu tiên của đổi mới.
 
Cũng trong thời điểm sau Đại hội VI, tình hình kinh tế nước ta lâm vào lạm phát phi mã, bội chi ngân sách cao, giá cả tăng ọt trên trăm phần trăm, đời sống của cán bộ, nhân dân gặp nhiều khó khăn, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã phân tích tình hình, tìm ra nguyên nhân của vấn đề lạm phát và chỉ đạo thực hiện 4 biện pháp bảo đảm 4 giảm, đó là: giảm tốc độ bội chi ngân sách nhà nước, giảm nhịp độ tăng giá, giảm lạm phát và giảm khó khăn về đời sống của nhân dân. Để đạt được 4 giảm đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh cũng đã yêu cầu thi hành một số biện pháp cấp bách như: tách hệ thống tài chính ra khỏi ngân hàng, lập kho bạc nhà nước, bơm tiền cho lưu thông, mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ “ngăn sông, cấm chợ”.
 
Những tư tưởng, định hướng chỉ đạo và những giải pháp đúng đắn đó đã được triển khai kịp thời, đồng bộ, kiên quyết vào thực tiễn và trong một thời gian ngắn đã cho thấy các tác động tích cực và mạnh mẽ đến quá trình sản xuất và lưu thông; đã thực sự đi vào cuộc sống, đóng góp to lớn vào sự phát triển sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế, cụ thể là đã tháo gỡ những ách tắc cho “đầu vào” và “đầu ra” của sản xuất, tạo ra động lực cho sản xuất phát triển. Nhờ những giải pháp nêu trên tình hình khan hiếm hàng hóa từng bước được khắc phục, tình trạng ngăn sông cấm chợ được chấm dứt, lưu thông hàng hóa được thông suốt. Đặc biệt, trong thời điểm này, thâm hụt ngân sách được cải thiện, tiền lương được tăng lên, giá cả giảm và ổn định dần, lãi suất ngân hàng dần dần được giải quyết phù hợp với thị trường; lạm phát phi mã được từng bước ngăn chặn, tỷ lệ lạm phát đã giảm từ ba con số (khoảng 700% năm 1987) xuống còn hai con số (61% năm 1991). Nhờ tiến trình này mà sau năm 1990, lạm phát đã được kiểm soát và tỷ lệ lạm phát ở mức một con số.
 
Đối với nông nghiệp, đồng chí Nguyễn Văn Linh cũng đặc biệt quan tâm và có nhiều kiến giải, giải pháp có tính đột phá, khởi động một sự phát triển mới bảo đảm cho nông nghiệp Việt Nam từ yếu kém, nghèo làn, làm không đủ ăn trở thành một nền nông nghiệp phát triển khá, có lượng xuất khẩu lương thực đứng nhất nhì thế giới. Đó là, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã đặt vấn đề giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp là khâu then chốt và cho rằng phải lấy mặt trận nông nghiệp làm khâu đột phá. Trên cơ sở quan điểm đó, đồng chí Nguyễn Văn Linh đã chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị năm 1988 và đã cho tiến hành đánh giá những mặt được và những hạn chế của cơ chế Khoán 100 trong nông nghiệp (sau 7 năm thực hiện). Qua kết quả đánh giá đó, Bộ Chính trị đã đề ra Nghị quyết số 10 của Bộ Chính trị về khoán sản phẩm, gọi là Khoán 10.
 
Nghị quyết 10 (Khoán 10) của Bộ Chính trị về khoán sản phẩm trong nông nghiệp đã có một tác động, một cú hích mạnh mẽ làm cho nông nghiệp như bừng tỉnh trong một thời gian dài ngủ đông, đã giải phóng mạnh mẽ sức sản xuất trong nông nghiệp, khơi dậy nhiều tiềm năng phát triển mà lâu nay bị lu mờ hoặc lãng quên. Chỉ sau một năm, từ một nước hằng năm đi vay, đi xin hàng nửa triệu tấn lương thực thì đến năm 1989, nhu cầu lương thực trong nước không những sản xuất đáp ứng đủ mà dành hơn 1 triệu tấn gạo để xuất khẩu.
 
Với gần 30 năm đổi mới, mô hình kinh tế Việt Nam đã từng bước phát triển ngày một thị trường hơn. Tư duy và nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được liên tục đổi mới và ngày càng phát triển. Từ tư duy và nhận thức cho rằng để đi lên chủ nghĩa xã hội cần phải phát triển nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đến tư duy và nhận thức cho rằng, để xây dựng chủ nghĩa xã hội cần phát triển nền kinh tế thị trường là một bước tiến dài trong nhận thức và tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có sự đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn Văn Linh.
 
Nhìn lại lịch sử, có thể nói việc xác định lý luận về mô hình phát triển nền kinh tế nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội cho đến ngày hôm nay là một bước tiến ngoạn mục. Từ việc phủ định nền kinh tế thị trường đến chỗ nhận ra rằng, phát triển nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan và nền kinh tế thị trường là sản phẩm, là thành quả phát triển của văn minh nhân loại. Không có bất kỳ một quốc gia nào muốn phát triển, giàu mạnh được mà không lựa chọn phát triển nền kinh tế thị trường. Phát triển nền kinh tế thị trường là nền tảng để giải phóng và khơi thông mọi nguồn lực, tiềm năng và sáng tạo cho phát triển. Phát triển nền kinh tế thị trường là một bước đi tất yếu và là phương tiện không thể thiếu để cho nhân loại đi đến giàu có và phồn vinh. Với những kết quả đạt được của 30 năm đổi mới ở Việt Nam, có thể thấy rằng phát triển nền kinh tế thị trường là một hướng đi đúng. Mặc dù, mô hình phát triển kinh tế nước ta vẫn cần có những kiến giải đột phá để đi lên tiếp, nhưng những tư tưởng và đóng góp của đồng chí Nguyễn Văn Linh là những đóng góp quyết định cho một hướng phát triển mới. Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước và nhân dân Việt Nam, các thế hệ hôm nay và mai sau mãi ghi nhớ công lao to lớn của đồng chí vì nước, vì dân, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
 
                    PGS, TS Lê Quốc Lý
Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
 
 
;