Độc đáo kiến trúc đình Phán Thủy

Về thôn Phán Thủy (xã Song Mai, Kim Động) những ngày này chúng tôi được hòa cùng niềm vui với những người dân địa phương khi đình Phán Thủy vừa được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích Quốc gia có kiến trúc nghệ thuật độc đáo.
Đình Phán Thủy tọa lạc trên một khu đất thoáng đãng tại thôn Phán Thủy. Căn cứ vào thân tích lưu giữ tại đình và theo lời kể của các cụ cao niên trong thôn, đình Phán Thủy tôn thờ hai vị thành hoàng làng là Nguyệt Lãng Đại vương và Trung Quốc Đại vương. Theo thần tích, hai ông sống vào thời vua Trần Thái Tông. Các ông có công cùng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn phá tan quân Mông Cổ, bắt sống Ô Mã Nhi góp phần đem lại thái bình cho đất nước, ấm no cho nhân dân. Sau đó, hai ông cùng về sống tại Phán Thủy khuyến khích nhân dân làm ruộng, trồng dâu nuôi tằm... Phối thờ cùng với hai ngài là Độc cước Đại vương và ông thầy họ Nguyễn. Độc cước Đại vương có công phù giúp hai ngài dập tắt hỏa tai để nhân dân yên ổn làm ăn. Ông thầy họ Nguyễn đã truyền dạy cho hai ngài tinh thông nho, y lý, số, đắc đạo trở thành người toàn tài để giúp dân, giúp nước. 
 
Đình Phán Thủy (xã Song Mai, Kim Động)
Đình Phán Thủy (xã Song Mai, Kim Động)

Theo truyền ngôn, đình Phán Thủy được khởi dựng từ thời Trần ngay sau khi hai ông mất với kiến trúc đơn giản nhưng sau đó ngôi đình bị phá hủy. Đến thời Nguyễn năm Duy Tân thứ 7 (1913), nhân dân địa phương góp công, góp của xây dựng lại với kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam gồm ba tòa: Đại bái, Trung từ và Hậu cung cùng hai dãy giải vũ và Tam quan. Trải qua bao biến đổi thăng trầm của thời gian, thời kỳ chiến tranh, một số hạng mục công trình bị hư hỏng, phá dỡ. Thời kỳ Cách mạng tháng Tám, đình là địa điểm tập kết lực lượng thanh niên, dân quân tự vệ của địa phương để đi cướp kho thóc của Nhật suốt dọc tuyến sông Hồng. Đến thời kỳ chống Mỹ, đình là nơi đầu tiên UBND huyện Kim Động chọn về sơ tán. Sau đó trường cấp III huyện cũng tạm thời chuyển về đây... Năm 2004, chính quyền và nhân địa phương tiến hành tu tạo lại tòa Trung từ, Hậu cung. Năm 2010, nhân dân tiến hành cải tạo sân đình, tôn nền sân, lát bằng gạch đỏ. Hiện nay, đình Phán Thủy được bảo vệ khá chu đáo, chính quyền và nhân dân địa phương đã cắt cử người thường xuyên trông nom, dọn dẹp. Ngôi đình đã trở thành nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của nhân dân địa phương và du khách thập phương đến tham quan, chiêm bái.

Hiện nay đình vẫn giữ được kết cấu kiến trúc kiểu chữ Tam. Mặt tiền hướng Nam, ghé Tây, ba phía Đông, Tây và Bắc giáp đường làng. Phía Nam là ao đình tạo nên vẻ đẹp phong quang, thoáng đãng, phù hợp với thuật phong thủy, là nơi tụ nhân, tụ thủy, tụ phúc. Phía trước khu thờ chính là Nghi môn xây kiểu cột trụ biểu gồm hai cột chính và một cột phụ. Đỉnh cột trụ chính đắp rồng cuốn, các ô lồng đèn lắp tứ linh và tứ quý. Hai cổng phụ được trang trí đơn giản, đỉnh đắp đôi nghê chầu vào cổng chính. Qua khoảng sân rộng lát gạch đỏ là đến tòa Đại bái được chia làm 5 gian 2 chái làm kiểu tường hồi bít đốc. Ba gian giữa được xây lui vào so với hai gian đầu hồi tạo nên kiến trúc kiểu chữ U. Hai gian hồi được xây kín, làm cửa sổ tròn, trang trí cách điệu kiểu chữ Thọ để lấy ánh sáng và thông gió cho ngôi đình. Không gian thờ tự chính của Đại bái được lát gạch bát, nền xây cao hơn các gian khác. Bộ khung của tòa nhà bao gồm cột cái, cột quân, xà… được làm chủ yếu bằng gỗ lim. Hai bộ vì nóc gian giữa được tạo tác kiểu chồng rường giá chiêng. Trên các con rường, các bộ vì nách đều được chạm khắc tinh tế, vừa sống động vừa linh thiêng bằng kỹ thuật chạm nông và bong kênh điêu luyện mang đậm dấu ấn mỹ thuật đời Nguyễn theo đề tài: tứ quý, rồng, ly, phượng… Hai bộ vì kế tiếp ở hai bên có kết cấu kiến trúc tương tự nhưng trang trí đơn giản hơn, trên các rường cột chạm trang trí hình chữ Thọ. Hai vì hồi được làm kiểu chồng rường giá chiêng con nhị, các đầu dư được chạm khắc cá chép hóa rồng trong tư thế chầu vào gian giữa. Nhìn chung, các mảng chạm khắc trên các cấu kiện kiến trúc tòa Đại bái được thể hiện tinh tế kết hợp hài hòa giữa khối chạm với nhiều đề tài phong phú, có giá trị mỹ thuật cao. Tòa Đại bái để thông phong phía sau tạo nên không gian thoáng đãng cho lòng nhà. 
 
Tiếp đến là Trung từ gồm 3 gian 2 chái, có nền thấp hơn Đại bái được lát gạch vuông. Hệ thống các cột và bộ vì được làm theo kiểu kiến trúc truyền thống. Tại gian giữa Trung từ bài trí ban thờ Công đồng với đồ thờ tự (bát hương, giá văn, lọ hoa) và nhang án thờ được sơn son thiếp vàng, trang trí rồng cuốn, tứ linh, tú quý, hoa dây, chữ thọ...
 
Kế tiếp với Trung từ, tòa Hậu cung gồm 3 gian 2 chái, làm theo kiểu thông phong phía trước tạo nên khoảng không thông thoáng giữa Đại bái, Trung từ và Hậu cung. Mái Hậu cung lợp ngói mũi, đường bờ nóc xây thẳng và kết thúc hai đầu vuông thót đáy. Nền lát gạch vuông, có hệ thống cột chịu lực và cấu kiện làm từ vật liệu gỗ. Các bộ vì chính được làm kiểu vì kèo trụ trốn. Các vì nách được tạo tác kiểu vi chồng rường, bào trơn. Gian trung tâm Hậu cung là nơi đặt ban thờ các vị thần... Phía trên ban thờ bài trí bốn cỗ ngai và bài vị của bốn vị: Nguyệt Lãng Đại vương, Trung Quốc đại vương, Độc Cước Đại vương và ông thầy họ Nguyễn. Tại gian trung tâm treo bức đại tự “An nhạc giáng thần” (Từ non cáo giáng xuống làm thần), trên cột treo đôi câu đối lòng máng nền son chữ đen có nội dung ca ngợi công đức của các vị thần đối với vùng quê này. 
 
Chạm khắc tinh xảo cấu kiện kiến trúc tòa Đại bái (đình Phán Thủy)
Chạm khắc tinh xảo cấu kiện kiến trúc tòa Đại bái (đình Phán Thủy)

Xưa kia, hàng năm tại đình Phán Thủy diễn ra nhiều dịp lễ tiết như: Ngày mồng 4 tháng Giêng (ngày sinh của Độc cước Đại vương), ngày 7 tháng Giêng (ngày sinh của Nguyệt Lãng đại vương và Trung Quốc đại vương), 15 tháng 5 âm lịch (ngày hóa của Độc cước Đại vương), ngày 3 tháng 12 âm lịch (ngày hóa của Nguyệt Lãng Đại vương và Trung Quốc Đại vương)… Trong lễ hội diễn ra các nghi thức tế lễ trang nghiêm, tổ chức rước kiệu, ngai, bài vị của hai vị thành hoàng làng: Nguyệt Lãng Đại vương và Trung Quốc Đại vương lên đền thượng (đền thờ Độc cước Đại vương) để tế lễ. Ngoài phần lễ nhân dân còn tổ chức hội làng với nhiều trò chơi dân gian như cờ vây, chọi gà, ca hát… Ngày nay, để phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, dân làng vẫn tổ chức lễ hội nhưng quy mô nhỏ hơn phù hợp với nếp sống văn hóa mới nhưng vẫn bảo lưu được các giá trị văn hóa truyền thống. Đây là dịp nhân dân địa phương và khách thập phương sum họp để tưởng nhớ công lao của hai vị thành hoàng làng, góp phần khơi dậy cho các thế hệ mai sau niềm tự hào về truyền thống của địa phương, có ý thức bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông.

Có thể nói, đình Phán Thủy là một công trình kiến trúc cổ có quy mô tương đối lớn, có niên đại từ thời Nguyễn còn vững chắc. Các hạng mục và cấu kiện kiến trúc khá đồng bộ, có nhiều mảng chạm khắc đẹp. Kiến trúc nghệ thuật đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật chạm khắc đầu thế kỷ XX. Đây là ngôi đình có giá trị về mặt lịch sử, kiến trúc trên địa bàn tỉnh, còn bảo lưu được tương đối nguyên vẹn cho đến ngày nay. 
 
Thu Yến
 
(Bài viết có tham khảo tài liệu “Đình Phán Thủy, xã Song Mai (huyện Kim Động)” của Ban Quản lý di tích tỉnh Hưng Yên)
 
;