Những giá trị lịch sử tại di chỉ khảo cổ Động Xá

Trong những năm 80-90 của thế kỷ trước, những phát hiện từ nhân dân trong khi đào mương, đào ao làm phát lộ di tích Động Xá, thị trấn Lương Bằng (Kim Động). Người dân phát hiện ngôi mộ mà người chết được đặt vào 2/3 cây gỗ, còn 1/3 được làm nắp đậy và gắn bằng sơn ta. Bên trong có một số đồ gốm, đồ đồng hoặc đồ gỗ sơn then. Có ngôi mộ của một người phụ nữ đội mũ bằng đồng và đeo nhiều đồ trang sức bằng đồng như vòng tay, vòng chân, vòng cổ, khuyên tai. Ngoài ra, người dân còn phát hiện nhiều mộ táng bằng áo tơi bên trong bọc các thanh tre và một số quan tài hình thuyền. Những phát hiện này giúp các nhà khoa học nghĩ tới việc điều tra, thám sát và tiến tới khảo sát khai quật để tìm hiểu những gì đã tồn tại phía trước nó. Trong những năm đó, Bảo tàng Hải Hưng, Bảo tàng Hưng Yên đã có một số công việc về khảo sát khai quật một số mộ táng, thu nhặt được nhiều hiện vật. Và suốt thời gian sau đó trong khi đào ao, khơi sông cũng đã phát hiện nhiều quan tài cùng nhiều đồ dùng sinh hoạt, những vật dụng bằng đồng, gốm, đồ trang sức của phụ nữ bằng đồng. Điều này mở ra những dấu hiệu về sự tụ cư của cư dân Đông Sơn, nói cách khác sự sống đầu tiên xuất hiện trên mảnh đất Hưng Yên. 

Trống đồng được tìm thấy tại Động Xá
Trống đồng được tìm thấy tại Động Xá

Sau đó cũng tại khu vực này, vào năm 1998, người dân cũng đã phát hiện một trống đồng. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khảo cổ học, các chuyên gia lịch sử đầu ngành cho rằng trống đồng Đông Sơn được tìm thấy tại Động Xá rất lạ với những đặc điểm riêng. Theo phân loại Fanz Heger (tên một nhà khoa học người Áo), đây là loại trống đồng loại 1. Trong cách phân loại này, trống đồng loại 1 được xem là cổ nhất. Có 3 nét lạ được xem là đặc điểm riêng của trống đồng tìm thấy tại Động Xá:  ở hình khối tượng nổi trên mặt trống không phải là con cóc hay con voi mà là 5 con nhái bén, ở thân trống là hình con trâu (thường là bò, hươu), có cả hình đôi trâu đang giao phối (mang ý nghĩa phồn thực), hình thuyền và người ở thân trống cũng khác biệt. 

Cuối năm 2004, Bảo tàng Hưng Yên, Viện khảo cổ học, Trung tâm tiền sử Đông Nam Á, Trường đại học quốc gia Úc và Bảo tàng quốc gia Úc phối hợp các phương pháp điều tra hiện đại với phương pháp khai quật khảo cổ học truyền thống như điều tra trong lòng mương, sông và tìm hiểu trong nhân dân, một lần nữa khai quật khu di chỉ khảo cổ này. Trong đợt khai quật này, gần 100 mộ táng được khai thác, trong đó đáng chú ý là một ngôi mộ nguyên vẹn. Đây là một tư liệu rất quý ở Hưng Yên vì đó là những tín hiệu cho biết cách tùy táng, đời sống tín ngưỡng, đời sống kinh tế của cư dân thời văn hóa Đông Sơn trên mảnh đất Hưng Yên. Đào tham sát khu dân cư gần kề khu mộ táng và cùng một số hiện vật gốm, bàn mài, gỗ, đồng, cọc tre cho thấy khu cư trú có liên hệ mật thiết với khu mộ táng. Chủ nhân khu mộ táng đồng thời là chủ nhân khu cư trú. Ngôi mộ được cho là đặc biệt đó là một chiếc quan tài bằng nửa trước một con thuyền độc mộc. Đây là con thuyền thật được coi là cổ nhất thời kỳ Đông Sơn ở vùng Đông Nam Á được phát hiện. Bên trong, người chết được phủ một lớp vải, một lớp cói, một số vật dụng chôn cùng như một vò gốm bên trong có một nhĩ bôi bằng gỗ sơn then. Đồng thời các nhà khoa học còn tìm được nhiều xương động vật, nhiều vật dụng bằng đồng, gốm, gỗ, một số đồ trang sức như vòng đeo tay, hàng nghìn mảnh vải có chất liệu từ sợi gai, lụa dệt rất tinh xảo và nhiều mộ táng bằng vỏ cây, cói.

Theo lý giải của các nhà khảo cổ học, cách ngày nay 6000-3500 năm, ở đây là vùng giáp biển. Đây chính là thời kỳ tích tụ trầm tích nhanh để thành tạo đồng bằng châu thổ sông Hồng. Mực nước trở lại như ngày nay vào khoảng sau 3.500 năm, làm xuất lộ trên bề mặt đồng bằng đang hình thành những gò đất xung quanh vẫn còn nhiều đầm lầy. Cư dân thời kỳ văn hóa Đông Sơn đã biết trồng lúa nước, do vậy những vùng gần nguồn nước là nơi lý tưởng để họ đến lập làng khai thác sinh sống. Khu Động Xá là một gò đất nổi lên trong bối cảnh đó đã kéo theo những cư dân Đông Sơn đầu tiên đến khai thác sinh sống tạo thành làng, bản. So với các khu làng khác như Ân Thi, Mỹ Hào, Văn Lâm thì làng Đông Sơn ở Động Xá là khu dân cư quần tụ con người đến sinh sống sớm nhất. Qua những hiện vật được tìm thấy ở nhiều nơi, các nhà khảo cổ học cho rằng, khu di tích Động Xá có mối quan hệ với một số cư dân liền kề như khu mộ Ân Thi, Đông Quan, La Đôi (Hải Dương), hoặc các khu cư dân xa hơn như Yên Từ, Yên Bắc, Đội Sơn (Hà Nam), Hà Tây, Quảng Ninh, thượng lưu sông Hồng: Lào Cai, Yên Bái.

Với những hiện vật tìm được cho thấy, khu dân cư Đông Sơn ở Động Xá đã có sự phân hóa giàu nghèo, đã có làng bản sinh sống tách ra khỏi khu mộ rất rõ nét. Những vật dụng được lưu giữ trong lòng đất có độ bền cao để nói lên đời sống kinh tế cư dân Đông Sơn cũng như đời sống văn hóa tâm linh lúc đó rất phong phú. Kỹ thuật sản xuất nông nghiệp, các nghề tiểu thủ công nghiệp rất rõ nét, như: trồng lúa nước, chăn nuôi, kỹ thuật chế tác đồ đồng, đúc đồng, nung gốm, nuôi tằm dệt  vải lên cao hoặc những nghề thủ công rất gần với đời sống như tre đan. Chiếc trống đồng, những mảnh vỡ của thạp đồng đã tìm được mà trên đó có nhiều họa tiết như đôi trâu giao duyên, những chiếc thuyền chở người mặc trang phục có loại vải mặc kẻ sọc giống những mảnh vải đã tìm được ở khu mộ nói lên đời sống văn hóa, nghệ thuật, kỹ thuật đúc đồng rât cao. Những tư liệu trong mộ thuyền nói lên cách cư xử của cộng đồng đối với người chết. Cư dân đã biết chọn hướng mộ; cấu trúc quan tài, cấu trúc mộ nói lên tín ngưỡng, đời sống tâm tinh rất cao của cư dân Đông Sơn ở Động Xá, vừa có nét riêng của vùng đông bắc sông Hồng, vừa có nét chung trong nền cảnh văn hóa Đông Sơn.

Đào Doan

 

 

 

 

;