Các võ tướng Hưng Yên qua tư liệu bia đá

Hưng Yên là vùng đất địa linh, nhân kiệt, thời nào cũng xuất hiện những bậc hiền tài xuất chúng giúp nước, giúp dân, được sử sách ca ngợi, nhân dân truyền tụng. Đặc biệt là ở lĩnh vực quân sự, Hưng Yên thời xưa có Triệu Quang Phục, Phạm Ngũ Lão, Phạm Phòng Át, thời cận đại có Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa Thám...
 
Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện còn khoảng hơn hai nghìn tấm bia đá có niên đại từ thế kỷ XII đến đầu thế kỷ XX. Trong số này, các văn bia ghi chép về các võ tướng chiếm tỉ lệ rất ít, chỉ khoảng hơn chục bia. Các văn bia này được phân bố chủ yếu tại các đình, đền, nhà thờ dòng họ và hệ thống lăng đá, nơi thờ tự của các tướng quân. Các tấm bia này cũng là những bằng chứng chân xác nhất về thân thế, sự nghiệp, cuộc đời và công đức của các ngài.
Văn bia ghi chép về tướng quân Phạm Phòng Át ( Phạm Bạch Hổ)
Văn bia ghi chép về tướng quân Phạm Phòng Át ( Phạm Bạch Hổ)
Hiện nay, tại thôn Hạ, xã An Vỹ, huyện Khoái Châu lưu giữ hệ thống lăng mộ Nguyễn Bá Khanh. Ông làm quan Tư Đồ dưới triều vua Lê Hiển Tông, mất năm 1775, thọ 64 tuổi. Ông được dân làng tôn làm hậu thần và được dựng bia từ khi ông còn sống. 
 
Trong khuôn viên lăng mộ có tấm văn bia ghi chép về Nguyễn Bá Khanh. Bia có 4 mặt, cao 180 cm, rộng 75 cm. Bia có nắp, 4 góc trên nắp bia được chạm họa tiết hổ phù trông rất uy nghiêm, diềm bia được trang trí hoa cúc dây, nét chạm mềm mại, tinh xảo.
 
Lòng bia được khắc chữ Hán, xen lẫn chữ Nôm, nét chữ rõ ràng, dễ đọc. Bia được tạo tác vào thời Lê Cảnh Hưng.
 
Tại quần thể di tích đền Phù Ủng, huyện Ân Thi, quê hương của danh tướng thời Trần, Phạm Ngũ Lão, có hệ thống văn bia ghi chép về công trạng của ông. Một số văn bia đã mờ, bia được trang trí họa tiết lưỡng long chầu nhật với nét chạm tinh xảo, thể hiện sự quyền uy của một bậc danh tướng. Diềm bia được chạm khắc họa tiết hoa dây cách điệu, chân bia chạm hoa sen, dòng tiêu đề chính Phạm Tướng công bi ký phần nào đã cho chúng ta thấy lòng kính ngưỡng của nhân dân địa phương đối với vị danh tướng này.
 
Trong hai cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288) Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Phạm Ngũ Lão đã ba lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao; hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng.
 
Không chỉ có tài về quân sự, mà ông còn để lại nhiều bài thơ đầy khí phách về chí trai, lòng yêu nước. Phạm Ngũ Lão mất năm 1320, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày, đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông. Nhân dân xã Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông. 
 
Nằm trong quần thể di tích Phố Hiến, tại một doanh trại quân đội  thuộc xã Hồng Châu, thành phố Hưng Yên có một tấm bia ghi công đức của một vị danh tướng - người có công lớn trong việc phát triển phố Hiến, đó là vị trấn thủ xứ Sơn Nam Lê Đình Kiên. 
Văn bia ghi chép tướng quân Lê Đình Kiên
Văn bia ghi chép tướng quân Lê Đình Kiên
Bia còn tương đối nguyên vẹn được tạo tác vào thời Lê, niên hiệu Bảo Thái thứ 4 (1723). Trán bia được khắc 21 chữ tiểu triện cũng là tiêu đề của tấm bia: Đỉnh kiến Tả Đô đốc Thiếu bảo Tước quận công Tặng Thái bảo Anh linh vương Từ bi kí . Lòng bia được khắc chữ Hán, rất rõ nét và dễ đọc, toàn bộ lòng bia là 21 dòng, khoảng gần 1000 chữ có nội dung ca ngợi về công lao, sự nghiệp và nhân cách của Lê Đình Kiên, đó là những lời ca ngợi đối với một vị trấn thủ, qua đó thể hiện tình cảm tốt đẹp của người nước ngoài ở Phố Hiến nói chung cũng như những người Hoa nói riêng đối với vị danh tướng này…
 
Tấm bia này là minh chứng chân thực nhất về công lao và sự nghiệp của Sơn Nam Trấn thủ xứ Lê Đình Kiên, đồng thời nội dung văn bia cũng cho ta thấy sự phồn thịnh của đô thị cổ Phố Hiến vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII.
 
Trong những thập niên đầu thế kỷ XVII, diễn biến chính trị - xã hội khá phức tạp bởi sự tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn. Cùng với những “anh tài” khác, Phạm Công Trứ là một trong 39 người “phò tá có công lao tài đức” thời Trung hưng, đã đem hết sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cống hiến cho đất nước, vì sự nghiệp “quốc thái, dân an”. 
 
Với công lao to lớn trong sự nghiệp trung hưng nhà Lê, con cháu và nhân dân địa phương đã dựng đền thờ ông tại quê nhà. Ngày nay, di tích đền thờ Phạm Công Trứ ở thôn Thanh Xá, xã Nghĩa Hiệp, huyện Yên Mỹ, còn 12 văn bia, trong đó có tấm bia Đại Thừa tướng sự nghiệp bi (Văn bia ghi về sự nghiệp Đại Thừa Tướng). Nội dung văn bia có 2 phần, phần thứ nhất ghi họ và tên, quê quán, các chức vụ đã đảm nhiệm, các tước được Vua phong. Văn bia còn ghi ngày mất, tên thụy, nghi thức tang lễ, đánh giá công lao, ca ngợi tư cách của Phạm Công Trứ. Mặt sau văn bia tóm tắt tiểu sử, công trạng và những ân huệ được vua ban. Bia được lập năm Vĩnh Trị thứ 4 -1679.
 
Tại Đền Mây, phường Lam Sơn, thành phố Hưng Yên còn có hệ thống văn bia ghi chép về tướng quân Phạm Bạch Hổ. Tên thực của ông là Phạm Phòng Át, Người sinh ra trong một gia đình nông dân - thương nhân tại trấn Đằng Châu, năm 910. Ngay từ nhỏ Phạm Phòng Át đã nổi tiếng hiếu học, có tư chất thông minh, tính tình nóng nẩy nhưng hết sức cương trực. Hiện Đền mây có 5 tấm bia là những tư liệu quý ghi chép về tướng quân Phạm Bạch Hổ. Trong đó có một tấm bia được đặt ở trong đền rất quan trọng, với nhiều nội dung ca ngợi công đức của tướng quân.
 
Trong quần thể các di tích liên quan đến dòng họ Lê Hữu ở xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ thì có một văn bia ghi chép về Lê Hữu Kiều, ông là người có tài văn võ song toàn. Hơn 40 năm làm quan, từng được giữ chức Thượng thư nhiều bộ: Năm 1742, ông làm Thượng thư bộ Công; năm 1748, ông làm Thượng thư bộ Lễ; năm 1752, ông làm Thượng thư bộ Binh.
Văn bia ghi chép về Lê Hữu Kiều
Văn bia ghi chép về Lê Hữu Kiều
Lê Hữu Kiều trong dòng họ Lê Hữu có nét đặc biệt riêng, trong khi các nhân vật khác đều nổi danh về con đượng khoa cử, riêng Lê Hữu Kiều lại lập thân trên con đường võ nghiệp. Tấm bia Tốn Trai lý lịch ký (bài ký ghi chép về Tốn Trai) cho chúng ta thấy được cuộc đời và sự nghiệp của bậc danh thần này. Văn bia hiện còn lưu giữ tại Từ chỉ của ông, bia có chiều cao 109 cm, chiều rộng 63 cm. Bia được lập vào niên hiệu Cảnh Hưng thứ 17, năm Bính Tý (1756). 
 
Trong quần thể lăng mộ Vũ Hồng Lượng, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi còn có tấm văn bia nói về công trạng của Vũ Minh Tiến. Ông làm quan dưới triều Lê, nhiều lần có công lớn trong việc chống giặc ngoại xâm và an định xã tắc. Xét về mặt mỹ thuật thì tấm bia này thực sự là một tác phẩm điêu khắc có giá trị. Bia được trang chí các họa tiết theo chủ đề tứ linh, trán bia chạm họa tiết mặt trời, mây lửa ở giữa, hai con phượng chầu hai bên… tất cả đều hết sức uyển chuyển, sống động. Tiêu đề chính được ghi ở trán bia mặt trước Vũ Tướng công thực lục bi (Bia ghi chép về hành trạng của Vũ Tướng công). Dòng niên đại “Vĩnh Thọ vạn vạn niên chi tam, tuế tại Canh Tý, xuân tiết, cốc nhật” đã cho chúng ta biết bia được tạo tác vào niên hiệu  Vĩnh Thọ thứ 3, mùa xuân năm canh Tý.
 
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên còn rất nhiều bia ghi chép về thân thế, sự nghiệp của các võ tướng người Hưng Yên, và võ tướng người tỉnh khác nhưng được lưu danh tại tỉnh Hưng Yên; cụ thể là văn bia Nguyễn Thiện Thuật tại xã Xuân Dục, huyện Mỹ Hào, văn bia thượng tướng quân Doãn Nỗ ở xã Phương Chiểu, thành phố Hưng Yên, văn bia ghi chép về quận công Hoàng Nghĩa Phác tại thôn Vân Cầu, xã Hồng Tiến, huyện Khoái Châu.v.v.
 
Ngoài giá trị tư liệu lịch sử, các văn bia về các võ tướng này còn là những công trình điêu khắc khá tinh xảo nhằm bổ xung thêm cho kho tang mỹ thuật Việt Nam nói chung, nó cũng phản ánh những tinh hoa văn hóa của người dân Hưng Yên nói riêng.
 
 
Minh Huệ- Trí Dũng
 
;