Các "nhà ngoại giao" người Hưng Yên thời phong kiến

Những người được cử đi sứ thời phong kiến nước ta thường là bậc đại khoa, thông minh mẫn tiệp, uyên bác hơn người, ứng đối sắc sảo, “trí dũng song toàn”. Sử sách còn ghi chép về chuyện đi sứ của nhiều “nhà ngoại giao” người Hưng Yên, với lòng yêu nước và trí tuệ hơn người đã luôn giữ vững khí tiết, làm tròn nhiệm vụ, góp phần giữ vững chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, duy trì mối quan hệ bang giao hòa hiếu.
 
Lịch sử bang giao của các vương triều phong kiến nước ta cho thấy, ngoại giao trong nhiều giai đoạn là một mặt trận đấu tranh không kém phần quyết liệt mà những vị quan lại được cử tiếp sứ hay đi sứ đều là những người “trí dũng song toàn”. 
 
Sử sách và trong dân gian còn lưu truyền câu chuyện “thần đồng” Nguyễn Trung Ngạn tiếp sứ nhà Nguyên. Ông quê ở huyện Thiên Thi (nay là huyện Ân Thi, Hưng Yên), 16 tuổi đỗ Hoàng Giáp (năm 1304), là vị Hoàng giáp đầu tiên trong lịch sử khoa cử nước ta.
Nhà bia trong Lăng mộ Nguyễn Trung Ngạn ở làng Thổ Hoàng (Ân Thi)
Nhà bia trong Lăng mộ Nguyễn Trung Ngạn ở làng Thổ Hoàng (Ân Thi)
Năm 1324, vua Nguyên mới lên ngôi, sai sứ thần Mã Hợp Mưu mang chiếu sang nước ta báo tin. Chúng ngạo nghễ cưỡi ngựa định vào thẳng hoàng cung. Quân thị vệ ngăn lại thì bị mắng om xòm. Các viên quan biết tiếng ra đón tiếp, trình bày hơn 3 giờ liền mà chúng không thèm nghe. Một bên là không thể bất nhã với sứ nước khác, nhất lại là nước lớn láng giềng. Còn một bên là quốc thể không thể để bị hạ thấp. Vua Trần vô cùng tức giận, sai Nguyễn Trung Ngạn ra gặp Mã Hợp Mưu. 
 
Ông đã dùng kiến thức uyên bác và lý lẽ sắc bén của mình khiến sứ giả nhà Nguyên đuối lý, chịu xuống ngựa, bưng chiếu đi bộ vào yết kiến vua Trần. Khi biết Nguyễn Trung Ngạn đỗ bảng vàng lúc 16 tuổi thì sứ thần nhà Nguyên thay đổi thái độ. Từ đấy cho đến khi về nước, mọi cử chỉ hành động đều khiêm nhường, không ngông nghênh như trước, khiến vua Trần rất hài lòng.
 
Từ khi đỗ Hoàng giáp đến khi đảm đương trọng trách tể tướng, Nguyễn Trung Ngạn luôn chứng tỏ là nhà chính trị, ngoại giao có tài. Sử sách ghi chép ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong hai lần được giao đi phó sứ nhà Nguyên, ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm chủ quyền và độc lập dân tộc trong bang giao Nam- Bắc. Ngay khi mới 26 tuổi, ông đã được tin cẩn cử đi sứ nhà Nguyên, một công việc quan trọng liên quan thể diện quốc gia và đầy nguy hiểm, gian nan.
 
Trên đường đi sứ, đoàn sứ bộ được tiếp đãi cao lương mỹ vị. Ấy thế nhưng Nguyễn Trung Ngạn vẫn không nguôi chạnh lòng nhớ nước. Khi qua vùng Giang Nam, nơi phồn hoa bậc nhất xứ người, ông viết bài thơ Quy hứng (Cảm hứng muốn về) bày tỏ:
 
Dịch thơ: Kiến thuyết tại gia bần diệc hảo/ Giang Nam tuy lạc bất như quy.
 
                Nghe nói ở nhà nghèo vẫn tốt/ Dù vui đất khách, chẳng bằng về!
 
Không chỉ yêu nước, trí tuệ, tài năng, các sứ thần còn phải dũng cảm vượt qua muôn vàn gian khổ trên đường đi sứ. Phải vượt hàng nghìn cây số đường sá xa xôi, núi sông cách trở, hoang sơ, gập ghềnh giữa thời tiết khi mưa, khi nắng gió, bão bùng, trong thời gian đằng đẵng nhiều tháng trời. Ấy vậy mà, có những người đi sứ rất nhiều lần, có lẽ bởi họ được vua rất tin cậy, đồng thời nhiều kinh nghiệm đi sứ, sức khoẻ tốt. Nhà khoa bảng người Hưng Yên từng đi sứ tới 3 lần là Đào Công Soạn. Ông sinh năm 1376, quê ở làng Thiện Phiến, huyện Tiên Lữ, được các nhà sử học đánh giá là danh thần, đóng góp nhiều cho sự nghiệp ngoại giao của đất nước. 
 
Đào Công Soạn là tiến sĩ thời chiến, ông thi đỗ đầu bảng trong kỳ thi tuyển nhân tài lúc đã gần 50 tuổi.
 
Trong cuộc đời làm quan, Đào Công Soạn đã 3 lần đi sứ. Năm 1429, ông là một trong những người được cử đi sứ nhà Minh đầu tiên của triều Lê với nhiệm vụ giải quyết hậu quả chiến tranh, duy trì hòa hiếu hai nước và đã hoàn thành sứ mạng vua giao. 
 
Năm 1436, ông giữ chức Thẩm hình viện sự kiêm Lễ bộ Thượng thư, nhận nhiệm vụ đi sứ lần hai. Về nước, ông đảm nhận nhiều trọng trách của triều đình như: Nhập nội hành khiển, Tri tam quán sự, Nhập thị Kinh diên. 
 
Năm 1444, khi đã gần ở “tuổi  xưa nay hiếm”, ông tiếp tục được tin tưởng cử đi sứ nhà Minh lần thứ 3. Trong lịch sử ngoại giao thời phong kiến, ít có sứ thần nào già như thế. Chỉ riêng việc vượt ngàn dặm để đến kinh đô Trung Quốc và quay về nước trong điều kiện đường sá xa xôi, hiểm trở, hoang vu đã là thử thách với sức khỏe vị sứ thần gần 70 tuổi. Dù vậy, ông vẫn minh mẫn, làm tròn nhiệm vụ được ủy thác trở về. 
 
Đi sứ là một công việc quan trọng, khó khăn và đôi khi hết sức nguy hiểm, chính vì vậy phải chọn những người hiền tài, những bề tôi tiết nghĩa mới có thể đủ sức đảm đương nhiệm vụ. Tiến sĩ Lê Như Hổ (1511-1581) là người như thế. Ông là người xã Tiên Châu nay là xã Hồng Nam (thành phố Hưng Yên), làm quan nhà Mạc, nhận nhiệm vụ đi sứ nhà Minh trong giai đoạn bang giao Nam – Bắc nhiều biến cố. 
 
Ông nổi tiếng đương thời có sức vóc to lớn, ăn khỏe, làm khỏe, thông minh. Tương truyền một lần vâng mệnh vua đi sứ Trung Quốc, vua nhà Minh nghe tiếng sứ giả An Nam là người ăn khỏe khác thường sai dọn âm cỗ 18 tầng cao, tầng thứ 18 là một đầu con cá người để dọa ông. Lê Như Hổ ăn hết tầng dưới đến tầng trên không nghỉ, đến tầng thứ 18 nhìn qua là biết chiếc đầu cá liền bảo: “Ta xưa nay chưa biết mùi thịt người thế nào, nay được hoàng đế cho ăn đầu người Bắc (Trung Quốc) thật là quý, hãy đem dao lại đây.”. Vua Minh phục tài phong ông là “Lưỡng quốc quốc sư” (Quốc sư hai nước). 
 
Ngoài nhiệm vụ chính là công việc chính trị được giao khi đi sứ, ông còn chú tâm học hỏi kỹ thuật các nghề thủ công ở nước ngoài mang về nước, dạy cho dân. Tương truyền khi đi sứ Trung Quốc, Lê Như Hổ học được nghề làm dù và sau này ông được coi là Tổ sư của nghề làm dù nước ta. 
 
Hiện nay, trong đền thờ ở Hồng Nam quê hương ông có nhiều câu đối ca ngợi tài đức của ông, trong đó có câu: “Trời sinh tài lạ lừng hai nước/ Tiên lạc bia vàng rạng ngàn năm”. 
 
Lê Hữu Kiều là người văn võ song toàn, đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi năm 1781, quê ở làng Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay là xã Liêu Xá, huyện Yên Mỹ), từng làm Thượng thư nhiều bộ, giữ quyền Tể tướng. Ông là một thành viên trong gia đình có 4 cha con, anh em đều đỗ đại khoa đời Lê. Việc đi sứ của ông ít ghi chép trong chính sử nhưng công lao khi ông đi sứ được vua khen ngợi khi ban câu đối và cờ thêu hiện được lưu giữ ở từ vũ Quận công Lê Hữu Kiều tại quê nhà: 
 
       Sứ mao phiên khổn cần thì nhật
Quỹ tịch, kinh vi lệ dực niên
 
Nghĩa là: Nhớ những ngày có công chăm chỉ cầm cờ mao đi sứ, ra trận ngoài biên
 
Tưởng nhớ những năm có công giúp giữ quyền Tể tướng và vào hầu kinh diên.
 
Để giữ gìn được quốc thể, bảo vệ được lợi ích dân tộc, đòi hỏi sứ thần phải tinh thông địa lí, lịch sử, văn hoá nước ta, nước người, ứng đối nhanh trí, thông minh. Câu chuyện của tiến sĩ Nguyễn Gia Cát (1760-1816) người xã Hoa Cầu, huyện Văn Giang (nay là thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang) là một minh chứng.
 
Năm 1803, ông được vua Gia Long cử đi sứ nhà Thanh. Khi vào chầu vua Thanh, ông bị hỏi vặn: Vua nước Nam đặt niên hiệu Gia Long, có phải nhặt lấy trong hai niên hiệu của thiên triều là Gia Khánh và Càn Long không? 
 
Ông khảng khái đáp: “Nước chúng tôi từ Trần, Lê về trước, Nam Bắc chia đôi nhau mà tự quyết lấy được. Nay vua tôi, dấy lên từ Gia Định, thành công ở Thăng Long, nên đặt niên hiệu là Gia Long”. Câu trả lời của ông khiến vua Thanh khâm phục, không bắt bẻ vào đâu được nữa…
 
Chuyện đi sứ trong lịch sử vốn đầy nguy hiểm, gian nan, nhiều lúc liên quan trực tiếp tới sự an nguy của đất nước. Với tài năng, hiểu biết hơn người, những “nhà ngoại giao” người Hưng Yên thời phong kiến đã có nhiều cống hiến trong việc bang giao, gìn giữ hòa hiếu, nêu cao chính nghĩa, góp phần giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước. 
 
Minh Huệ
 
;