Những con người góp phần làm nên lịch sử

Xã Minh Tân (Phù Cừ) xưa kia từng là hậu cứ của nghĩa quân Bãi Sậy. Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp, lịch sử mảnh đất này tiếp tục được chọn là nơi hậu cứ an toàn của huyện Phù Cừ, đón nhận các cơ quan của tỉnh, của huyện về chỉ đạo kháng chiến, các đơn vị về đóng quân xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945 giành chính quyền. Làm nên vùng đất giàu truyền thống ấy là những người nông dân yêu tự do, độc lập, khát vọng hòa bình.
Các ông:
Các ông: Vũ Xuân Trường, Vũ Văn Tri ôn lại kỷ niệm của 3 anh em
3 anh em phiêu bạt nhưng lại chung chí hướng
 
Phiêu bạt mỗi người một nơi, không hẹn, nhưng 3 anh em Vũ Xuân Đài, Vũ Xuân Trường, Vũ Văn Tri trong một gia đình công giáo ở xã Minh Tân đều tham gia hoạt động cách mạng trước tháng Tám năm 1945, trong đó một người là cán bộ lão thành cách mạng, hai người là cán bộ tiền khởi nghĩa. Các ông đã cống hiến tuổi thanh xuân, cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
 
Gần 100 tuổi đời, mới đây vinh dự được tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng, thương binh Vũ Xuân Trường vẫn nhớ như in những ngày tháng đói nghèo, cùng cực ở làng quê Tần Tiến, xã Minh Tân. 3 anh em trong một gia đình có 7 người con, mỗi người phiêu bạt một nơi kiếm sống. Ông Trường nhớ lại: “Anh tôi là Vũ Xuân Đài, phiêu bạt đến Hải Phòng làm việc tại một nhà máy của Pháp; em tôi là Vũ Văn Tri, là hướng đạo sinh một trường công giáo ở huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Còn tôi vào tận Sài Gòn làm công nhân tại một nhà máy của Pháp. Tại nơi làm việc, tôi được tuyên truyền giác ngộ cách mạng, nên tháng 6.1945, tôi tham gia đội vũ trang bí mật của Đảng chuẩn bị các điều kiện cho cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945". Nhiệm vụ của ông Trường là cùng một số anh em khác tuyên truyền cho công nhân về tội ác của thực dân Pháp, vai trò của giai cấp công nhân đứng lên đánh đuổi lũ giặc cướp nước. Lúc đó, chủ trương của Đảng tuyên truyền kêu gọi đội ngũ công nhân lao động trong các nhà máy, đồn điền để xây dựng lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Bất cứ ở đâu, lúc làm việc cũng như sinh hoạt, ông Trường đều nói chuyện với những người công nhân về tình hình đất nước đang bị Pháp cai trị, chiếm đóng, vận động công nhân phải đứng lên chiến đấu giành lại độc lập, tự do. Ông nhớ lại, có mặt trong ngày giành chính quyền tại Sài Gòn ngày 25.8.1945, khí thế của quân và dân ta hừng hực, từng đoàn nối nhau tiến về trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn, các trung tâm chính quyền bù nhìn của thực dân Pháp để đấu tranh giành lại chính quyền về tay nhân dân.
 
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, quân Pháp, Nhật bị đánh đuổi khỏi nhà máy, ông Trường ở lại làm nhiệm vụ bảo vệ nhà máy, phân xưởng, máy móc. Do đã có thời gian làm việc trong nhà máy, ông được phân công sang làm nhiệm vụ quân giới, sản xuất vũ khí trong quân đội. Ông đã phải để lại một bàn tay khi đang làm nhiệm vụ. Tháng 6 năm 1954, đồng đội tập kết ra Bắc, nhưng ông được tổ chức giao nhiệm vụ tuyệt mật đến tháng 9 năm 1954. Tuy đôi mắt đã mờ đục, sức khỏe đã giảm sút, nhưng giọng nói vẫn đanh thép: Đây là nhiệm vụ “sống để bụng, chết mang theo”. Lần giở lại trí nhớ, ông vui mừng vì được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân, huy chương trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước, bằng khen của Bộ Tư lệnh Nam bộ…
 
Trong căn nhà tình nghĩa của ông Vũ Văn Tri, hai người em mái tóc đã bạc trắng, ngồi ôn lại những tháng ngày tham gia hoạt động, rưng rưng nước mắt nhìn di ảnh của người anh, nhớ đến người anh, người chiến sỹ cộng sản, đảng viên Vũ Xuân Đài đã trải qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ... vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Theo ông Trường, từ khi 3 anh em rời khỏi làng quê, bặt tin nhau. Sau năm 1954, hòa bình lập lại, về quê hương thăm gia đình, lúc này các ông mới biết tin tức về nhau, vỡ òa khi biết cả 3 anh em cùng chí hướng, cùng lý tưởng, đi theo con đường cách mạng góp phần giải phóng dân tộc, đưa nhân dân thoát khỏi nghèo đói, cùng cực. 
 
Nhưng có lẽ cuộc đời hoạt động cách mạng có nhiều bước ngoặt nhất phải kể đến là người em Vũ Văn Tri. Ông Tri kể: Ngôi trường công giáo tôi học thực chất là một phòng nhì của Pháp (cơ quan tình báo). Trong ngôi trường đó tôi sớm nhận ra sự tàn ác của thực dân Pháp. Sau khi được gặp các đồng chí cán bộ cách mạng, tôi đã nhận nhiệm vụ làm tình báo, hoạt động bí mật tại đó. Ông nhớ lại: "Trong cuộc đời hoạt động, hai lần tôi được làm lễ tế sống trước khi làm nhiệm vụ quyết tử". Lần thứ nhất là đêm ngày 2.2.1944, ông Tri được làm lễ tế sống, được vinh danh anh hùng để bắt đầu nhận nhiệm vụ tình báo, đánh dấu bước ngoặt của cuộc đời ông đi theo con đường cách mạng. Nằm ngay trong lòng địch, song trong thời gian từ ngày 2.2.1944 đến tháng 10.1945, ông cùng với một số anh em khác tổ chức được một tổ hoạt động tại trường, xuất bản tờ tin Rạng Đông, bí mật tuyên truyền, cung cấp tài liệu quan trọng, những hoạt động tại phòng nhì cho cách mạng. Sự kiện Vịnh Bắc bộ diễn ra năm 1964, lần thứ hai ông được làm lễ tế sống để đánh trận quyết tử tại các hầm bí mật chiến lược tại Đồ Sơn (Hải Phòng). 
 
Năm 1976, sau khi đã nghỉ chế độ, ông vào thăm con trai khi đó đang tham gia quân ngũ tại miền Nam. Thời gian này, ông phát hiện nhiều sỹ quan của địch được cài cắm lại sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông báo cáo lên cấp trên và tiếp tục nhận nhiệm vụ tình báo bí mật đến năm 1994. Trong thời gian này, ông đã trải qua nhiều công việc nguy hiểm để theo sát các tên sỹ quan ngụy còn sót lại, báo cáo tổ chức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. 
 
Nắm tay nhau đi trên con đường cách mạng
 
Ở quê nghèo Minh Tân những ngày hừng hực khí thế của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, có một đôi vợ chồng sớm tham gia các hoạt động chống giặc Pháp, bọn cường hào, ác bá, tay sai, bảo vệ cán bộ cách mạng về gây dựng phong trào. Đó là ông Phạm Thanh Cát và bà Nguyễn Thị Nhạn. 
 
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công như hiệu triệu mỗi người dân Việt Nam đứng lên để bảo vệ nền tự do, độc lập, bảo vệ chính quyền non trẻ. Ông Cát nhớ lại, một lần ông đi chợ Thi (Ân Thi) nhìn thấy khẩu hiệu “Đả đảo chính phủ Nam triều, đả đảo Việt gian”, ông đã mua mảnh vải hồng, vải xanh về nhà cụ Trương Giai ở làng Nghĩa Vũ cắt may làm thành lá cờ. Khi Việt Minh về làng, ông mang lá cờ ra treo để đón Việt Minh. Đây cũng là dấu mốc trong cuộc đời đi theo cách mạng của ông. Ông kể, quê hương Minh Tân sớm có phong trào tập luyện võ nghệ. Gia đình ông là cơ sở dạy võ cho thanh niên trong làng, sau là cơ sở nuôi giấu cách mạng trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp. Ông được giao nhiệm vụ bảo vệ cán bộ Việt Minh về địa phương xây dựng căn cứ cách mạng, xây dựng lực lượng chiến đấu. 
 
Đơn vị về đóng quân đầu tiên tại xã là xưởng sản xuất quân giới X-E Liên Khu ba. Xưởng có nhiệm vụ sản xuất, sửa chữa quân giới kịp thời phục vụ mặt trận đường 5, Trung đoàn 42 và các đơn vị của Tỉnh đội Hưng Yên. Ông còn nhớ, khi xưởng thiếu nguyên liệu sản xuất, nhân dân thu gom hàng chục tấn sắt vụn, khi xưởng thiếu củi, thiếu gỗ, ông cùng nhân dân chặt cả cây đa cổ thụ, cây nhãn già được hàng chục m3 gỗ, củi. Minh Tân ngày ấy dày đặc chiến hào, hầm bí mật để che giấu cán bộ, bảo vệ nhân dân. Đặc biệt có gần 2000m đường giao thông hào, giao thông hầm ở ngoài đồng nối liền các thôn. Lối đi đến các thôn được đắp ụ rất to. Các thôn dày đặc lũy tre xanh, thôn này che cho thôn kia một cách liên hoàn tạo thành làng chiến đấu liên hoàn. Ông Cát cùng lực lượng tự vệ địa phương tham gia các trạm gác để bảo vệ nhân dân, bảo vệ xưởng sản xuất vũ khí. 
 
Phong trào “Thi đua ái quốc” với nội dung “ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sỹ; hậu phương thi đua với tiền phương” nhanh chóng được lan rộng, thành cao trào vừa kháng chiến, vừa kiến quốc trở thành cuộc chiến tranh nhân dân rộng khắp ở các vùng quê. Trong thời gian này, bà Nhạn tham gia ban bảo trợ dân quân, hội phụ nữ của xã có nhiệm vụ bảo vệ, phục vụ nuôi giấu cán bộ và thương binh nặng. Hàng trăm thương binh được nuôi dưỡng, bảo vệ an toàn. Do yêu cầu phải bảo vệ cơ quan và thương binh, nhiều gia đình bị đốt phá, cướp bóc trong những trận càn. Gần 10 lần, gia đình ông Cát, bà Nhạn bị đốt… Ông kể, có nhiều lần bà cứu ông khỏi sự truy lùng của địch. Có lần ông để tài liệu tuyên truyền ở đầu giường. Bất ngờ bọn Việt gian vào khám xét, bà nhanh trí cuộn cả nắm truyền đơn vào bọc tã lót vừa thay cho con vứt ra sân và lên tiếng mắng con vệ sinh bừa bãi. Lần khác, địch càn quét, ông xuống hầm dưới ao nhưng chưa kịp ngụy trang, bà nhanh trí vứt ngay chiếc chiếu xuống giặt che mắt kẻ thù. 
 
Tháng 2.1947, chi bộ đảng được thành lập trên cơ sở tách chi bộ ghép Ái Quốc. Hai ông bà sớm được kết nạp Đảng trong năm 1947 với lời thề son sắt một lòng theo Đảng, theo cách mạng. Từ đó, ông bà thấy vinh dự hơn, trách nhiệm hơn trong thực hiện nhiệm vụ… Xưởng sản xuất vũ khí rút sang vùng an toàn. Ông cùng đội tự vệ dùng dây thép, rào tre, cọc tre chăng dọc lòng sông Cửu An đoạn chảy qua địa bàn xã, đồng thời đào nhiều hầm bí mật dưới ao để che giấu cán bộ, thương binh. Từ năm 1949, ông làm xã đội trưởng, cùng du kích, dân quân tự vệ địa phương đánh các bốt Cao Xá, Trà Bồ, Tần Nhẫn… 
 
Ánh mắt bỗng rạng ngời, ông nhớ lại, gian khổ là thế, song những đêm gió mát trăng thanh, già, trẻ, trai, gái trong làng vẫn ra diễn kịch, hát chèo, hát trống quân ở sân đình, sân gạch ngõ xóm. Ông bà cũng vậy, cùng đứng trên sân đình mà múa hát, diễn kịch, ca vang bài ca cách mạng. Nghe đến đây, bà Nhạn, người bạn đời của ông nở nụ cười như cùng ông ôn lại những ngày tháng gian khổ mà tự hào ấy. Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, ông tham gia bộ đội chính quy, sau đó xuất ngũ, cả hai ông bà tiếp tục hoạt động tại địa phương. 
 
Cuộc sống của hai người nay đã 92 tuổi đời, đều đã có 70 năm tuổi Đảng, cùng nhau đi suốt chặng đường đời gắn với cuộc kháng chiến cứu quốc và chứng kiến cảnh quê hương đổi mới từng ngày. Vẫn làng quê đó, nhưng hôm nay dưới bầu trời hòa bình, hai ông bà vẫn bên nhau, hạnh phúc, chăm sóc cho nhau từng bữa ăn, giấc ngủ. Thật đáng trân quý là tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, gương mẫu của người đảng viên trong ông bà chưa bao giờ phai nhạt. Trong suốt cuộc đời, chưa khi nào ông đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích tập thể. Những ngày lễ, tết, ngày Thương binh - Liệt sỹ, ông bà trích một phần lương hưu thăm, tặng quà người nghèo và cận nghèo trong thôn, trong xã, thăm viếng đồng đội, đồng chí. Ông bà tự hào vì mình có 11 con, cháu là đảng viên, đang cống hiến vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. “Tre già măng mọc”, ông bà mong muốn các thế hệ đi sau hãy trân trọng sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ ông cha cho hòa bình hôm nay, phát huy sức trẻ để xây dựng quê hương, đất nước giàu đẹp.
 
Một đất nước kiên cường, bất khuất được bắt đầu từ những con người, những gia đình như thế. Cuộc đời, sự cống hiến cho cách mạng của vợ chồng ông Phạm Thanh Cát và bà Nguyễn Thị Nhạn; của 3 anh em các ông Vũ Xuân Đài, Vũ Xuân Trường, Vũ Văn Tri, sự vẻ vang của những gia đình truyền thống cách mạng đó đã góp ngọn lửa vào ngọn đuốc sáng ngời tinh thần yêu nước của cả dân tộc, để đất nước mãi mãi trường tồn.
 
Đào Ban
 
;