Tháng 9, nhìn lại những công trình khoa học tiêu biểu của Việt Nam

09:49, 14/09/2020

Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về khoa học và công nghệ là các giải thưởng cao quý mà Đảng và Nhà nước trao tặng cho các tác giả, đồng tác giả của những công trình khoa học và công nghệ tiêu biểu, có giá trị cao về khoa học và công nghệ, hiệu quả kinh tế - xã hội, có ảnh hưởng rộng lớn, lâu dài trong đời sống.
 

Một góc không gian trưng bày về Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam với chủ đề "Khoa học: Sáng tạo và Cống hiến", ngày 29/8/2020. Ảnh: BTC cung cấp
Một góc không gian trưng bày về Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam với chủ đề "Khoa học: Sáng tạo và Cống hiến", ngày 29/8/2020. Ảnh: BTC cung cấp

Việt Nam đã tổ chức xét và trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ vào các năn 1996, 2000, 2005, 2010 và 2016. Đến nay, đã có hàng trăm công trình, cụm công trình được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.


Cuộc trưng bày đầu tiên về Giải thưởng Hồ Chí Minh của các nhà khoa học Việt Nam được thực hiện nhân dịp kỷ niệm 75 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 do Bộ Khoa học và Công nghệ bảo trợ, đã khẳng định những thành tích, đóng góp của nhà khoa học trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.


Tháng 9 mùa Thu, tháng của những hồi ức và  kỷ niệm thiêng liêng về 75 năm Quốc khánh của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, TTXVN điểm lại một số công trình khoa học tiêu biểu đã được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước, những công trình đã góp phần làm rạng rỡ các tên tuổi Việt Nam trên thế giới!


Cha đẻ của thuốc kháng sinh - Giáo sư Đặng Văn Ngữ được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.


Cố Giáo sư, bác sĩ Đặng Văn Ngữ được mệnh danh là “Cha đẻ của thuốc kháng sinh”, bởi sau khi du học từ Nhật Bản về, bác sĩ Đặng Văn Ngữ đã “nâng niu” các giống nấm kháng sinh để nghiên cứu điều chế penicillin và streptomycin ở rừng núi Việt Bắc khi cuộc kháng chiến chống Pháp đang diễn ra ác liệt.


Với tất cả sự nỗ lực và bất chấp nguy hiểm bác sĩ Đặng Văn Ngữ và những cộng sự đã bào chế thành công những ống kháng sinh đầu tiên. Sau đó ông tiếp tục tổ chức sản xuất “nước lọc Penicillin”. Việc sản xuất “nước lọc Penicillin” của giáo sư Đặng Văn Ngữ có ý nghĩa đặc biệt lớn lao, góp phần đắc lực cứu chữa hàng vạn thương binh trong công cuộc kháng chiến chống Pháp - nhờ nước lọc Penicillin mà 80% thương binh có thể trở về đơn vị chiến đấu không bị cưa chân tay.


Những công lao đóng góp của Giáo sư Đặng Văn Ngữ cho sự nghiệp y học nước nhà luôn được đồng nghiệp, bạn bè, học sinh và nhân dân kính trọng và ghi nhớ. Sau đó, không ngại gian khó và nguy hiểm, bác sĩ Đặng Văn Ngữ lại vào miền Nam điều trị sốt rét cho thương bệnh binh. Đặc biệt, đầu năm 1967, Giáo sư Đặng Văn Ngữ cùng đồng nghiệp tiếp tục có chuyến công tác vào chiến trường miền Nam, tới những vùng đang bị sốt rét hoành hành để nghiên cứu điều chế loại vaccine miễn dịch sốt rét và chữa trị tại chỗ cho bộ đội, nhưng không ngờ, đây lại là chuyến đi cuối cùng đối của Giáo sư. 


Ngày 1/4/1967, Giáo sư Đặng Văn Ngữ đã hy sinh trong một trận máy bay B52 của Mỹ ném bom tại một địa điểm trên dãy Trường Sơn thuộc địa bàn tỉnh Thừa Thiên - Huế, ông khi đang nghiên cứu về căn bệnh sốt rét.


“Thần tượng” của y học Việt Nam và thế giới - Giáo sư Tôn Thất Tùng.


Giáo sư Tôn Thất Tùng đã sáng tạo phương pháp cắt gan “khô” làm rạng danh nền y học Việt Nam. Năm 1962, những sáng tạo trong phương pháp cắt gan của Giáo sư Tôn Thất Tùng được cộng đồng y học thế giới ngạc nhiên đến sửng sốt khi bác sĩ Tôn Thất Tùng sáng tạo phương pháp cắt gan “khô”.


Ông đã cắt gan sau khi thắt tất cả các mạch máu và ống mật, không gây chảy máu trong khi mổ. “Phương pháp cắt gan Tôn Thất Tùng” đã trở thành kinh điển, được ứng dụng phổ biến trên thế giới. Với phương pháp này, thời gian mổ có thể chỉ mất 4-8 phút, trong khi theo phương pháp truyền thống phải cần 3- 4 giờ. Phương pháp cắt gan của Giáo sư Tôn Thất Tùng được giới thiệu trong sách y học ở Pháp, Mỹ và áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Năm 1974, tại hội nghị khoa học ở Paris (Pháp), chủ tọa hội nghị là Giáo sư Via - chuyên gia có tiếng về gan tuyên bố: “Phương pháp cắt gan của Việt Nam từ nay đã trở thành một phương pháp kinh điển thứ 2 và cần áp dụng vào việc mổ các gan vỡ do chấn thương và các ca khó của gan”. 


Giáo sư Tôn Thất Tùng đột ngột qua đời năm 1982 do một cơn nhồi máu cơ tim. Trong bức thư gửi đến Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, Bác sĩ Jean-Michel Krivine, Chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Trung tâm Bệnh viện Émile Roux (Paris), viết: “Việc Giáo sư Tôn Thất Tùng qua đời làm cho tôi cũng như nhiều bạn bè của Giáo sư choáng váng... Không ai có thể thay thế Giáo sư Tôn Thất Tùng, không một nhà phẫu thuật nào có tầm cỡ như Giáo sư trong thế hệ hiện nay - Giáo sư vẫn sống mãi với trường phái do ông sáng lập”.


Công trình nghiên cứu “Phương pháp cắt gan khô Tôn Thất Tùng” được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 1996.


Những phát minh mang tính lý thuyết trong lĩnh vực toán học, vật lý, cơ học của Giáo sư Hoàng Tụy, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ và Giáo sư Nguyễn Văn Đạo khiến các nhà khoa học quốc tế trong chuyên ngành phải nể phục…


Ở lĩnh vực lý thuyết toán, năm 1964, nhà toán học trẻ Hoàng Tụy đã giải được bài toán “quy hoạch lõm”. Thuật ngữ “vận trù học” khi đó còn xa lạ ở Việt Nam và ông đã đưa từ này vào kho từ vựng tiếng Việt. Thế giới có thêm một thuật ngữ khoa học mới: “nhát cắt Tụy”. Giáo sư Hoàng Tụy đã tạo ra cách tiếp cận có hệ thống và các bước tính toán cụ thể để giải bài toán “quy hoạch lõm”, góp phần phát triển, hoàn thiện lý thuyết tối ưu toàn cục.


Giáo sư Hoàng Tuỵ - cây đại thụ của nền Toán học Việt Nam, một trong hai người xây dựng ngành Toán học Việt Nam. Giáo sư Hoàng Tụy cũng là người đầu tiên nhận được Giải thưởng Constantin Caratheodory năm 2011 do Đại hội Quốc tế tối ưu toàn cục đề xướng cho những cống hiến của ông. Giáo sư Hoàng Tụy vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 1996.


Giáo sư Viện sĩ Nguyễn Đình Tứ khiến giới vật lý quốc tế ngưỡng mộ bằng cụm công trình “Nghiên cứu tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao và phát hiện phản hạt hyperon sigma âm”. Dày công thực nghiệm, ông đã phát hiện “phản hạt hyperon sigma âm”, qua đó đóng góp lớn vào việc xây dựng phổ các hạt cơ bản, minh chứng cho việc sử dụng hiệu quả các máy gia tốc năng lượng cao trong nghiên cứu vật lý cơ bản. Năm 2000, Giáo sư Nguyễn Đình Tứ vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ cho “Cụm Công trình phát hiện phản hạt Hyperon sigma âm và tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao”.


Giáo sư Nguyễn Văn Đạo là vị giáo sư của sáng tạo và sáng lập. Năm 2000 Giáo sư Nguyễn Văn Đạo được Đảng và Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ cho công trình "Dao động phi tuyến của các hệ động lực" (vốn là tập hợp các công trình nghiên cứu về "Dao động phi tuyến" của ông trong suốt 40 năm).


Danh tiếng khoa học của Giáo sư Nguyễn Văn Đạo được quốc tế thừa nhận. Năm 1996, Tổng thống Ukraina trao Giải thưởng nhà nước Ucraina cho những cống hiến của ông cho khoa học Toán - Lý với công trình "Các phương pháp tiệm cận mới trong giải tích phi tuyến" và ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Ukraina năm 2000. Trước đó, năm 1988, ông cũng đã được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tiệp Khắc. Năm 1999, ông được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ ba và năm 2002, được bầu là Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học châu Âu...


Các nhà khoa học danh tiếng thuộc các viện nghiên cứu lớn của các nước: Liên bang Nga, Cộng hòa Ukraina, Ba Lan,Tiệp Khắc, Italia... đều có chung đánh giá: "Những thành tựu khoa học của Giáo sư Nguyễn Văn Đạo, ngoài việc minh chứng cho tiến bộ khoa học, đã ảnh hưởng to lớn đến việc tạo dựng tại Hà Nội một trường phái khoa học về “Dao động phi tuyến”. Điều đó đã đưa Giáo sư Nguyễn Văn Đạo trở thành "nhân vật chủ yếu sáng tạo" nên "trường phái Hà Nội" trong nghiên cứu về "Dao động phi tuyến" được thế giới thừa nhận. 


Những câu chuyện về sự say mê với thiên nhiên, cây cỏ, động vật của Giáo sư Thái Văn Trừng, Giáo sư Đỗ Tất Lợi để có được những công trình khoa học để đời đã đem lại những giá trị trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước.


Những nghiên cứu về "Hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam”của Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Thái Văn Trừng đã giúp công chúng hiểu được quá trình nghiên cứu và thành công trong việc thực hiện cải tạo rừng ngập mặn Cà Mau, tìm ra cách thức phục hồi rừng bị hủy diệt bởi chiến tranh hóa học, phủ xanh đồi trọc, chống cát bằng rừng phi lao... Đây là công trình đột phá trong ba lĩnh vực: lâm sinh, sinh thái rừng, địa thực vật, xuất sắc về cả lý thuyết và thực tiễn. Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Thái Văn Trừng vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 2000.


Trong công trình “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư Đỗ Tất Lợi, đã được công bố tính năng, công hiệu của những loại dược liệu, những vị thuốc dân tộc trong tập hợp 750 loài cây và vị thuốc thuộc 164 họ, 77 vị thuốc động vật, 20 vị thuốc khoáng vật.


Giáo sư Đỗ Tất Lợi chiết xuất tinh chất nhiều cây thuốc dân gian để sát trùng, điều trị bệnh thông thường như nhược cơ, vết thương lở loét. Ông còn điều chế “ký ninh đen” chữa sốt rét, nghiên cứu Nerioline từ cây trúc đào để làm thuốc chữa bệnh tim. Với công trình này, Giáo sư Đỗ Tất Lợi là một trong số ít nhà khoa học Việt Nam được quốc tế vinh danh bởi đóng góp trong lĩnh vực dược học từ thập niên 60 của thế kỷ trước.


Giáo sư Đỗ Tất Lợi được công nhận học vị Tiến sỹ ở Liên Xô (1968) khi không trải qua quá trình nghiên cứu sinh hay thực tập sinh. Các nhà khoa học Liên Xô đã nghiên cứu rất kỹ bộ sách này và nhận xét: Trong rất nhiều bộ sách viết về cây thuốc nhiệt đới, chưa có bộ sách nào có thể sánh với bộ sách của nhà khoa học Đỗ Tất Lợi về mức độ chính xác, tỉ mỉ, khoa học.


Rất nhiều cây thuốc mà Giáo sư Đỗ Tất Lợi giới thiệu lần đầu tiên được dẫn ra trong các tài liệu về dược liệu học. Giáo sư Đỗ Tất Lợi vinh dự được Đảng, Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ năm 1996.


Theo TTXVN
 



Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)