Vì sao việc cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại theo tiêu chí mới còn thấp?

Những năm qua, việc phát triển kinh tế trang trại đã tác động tích cực đến việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển. Ngày 13.4.2011, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NNPTNT) đã ban hành Thông tư số 27/2011/TT-BNNPTNT quy định về tiêu chí trang trại (mới) và thủ tục cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại (Thông tư số 27). Thông tư số 27 cùng với các chính sách về nông nghiệp là “phương tiện” quan trọng giúp các chủ trang trại được hưởng nhiều ưu đãi của Nhà nước trong phát triển kinh tế nhất là có thể vay vốn theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12.4.2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn (Nghị định số 41). Tuy nhiên, đã 3 năm từ khi Thông tư số 27 có hiệu lực nhưng đến thời điểm này tỉnh Hưng Yên mới có 115/635 (đạt 18%) trang trại được thẩm định và cấp giấy chứng nhận kinh tế trang trại (GCNKTTT).
 
Theo Thông tư số 27, tiêu chí về kinh tế trang trại được xác định cơ bản bởi yếu tố diện tích và giá trị sản lượng hàng hóa. Theo đó, cá nhân, gia đình sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản muốn đạt tiêu chuẩn kinh tế trang trại phải thỏa mãn điều kiện sau: Đối với cơ sở trồng trọt, nuôi trồng thuỷ sản, sản xuất tổng hợp cần rộng 2,1 ha trở lên, giá trị sản lượng hàng hóa đạt 700 triệu đồng/năm. Đối với cơ sở chăn nuôi phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1 tỷ đồng/năm trở lên. Lợi ích lớn nhất mà người dân được hưởng lợi từ Thông tư số 27 chính là ở chính sách tín dụng được xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản mức tối đa 500 triệu đồng (theo Nghị định số 41). Trong tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay, số vốn trên hết sức quan trọng để các trang trại duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Ngoài ra, khi được cấp GCNKTTT, các chủ trang trại còn được hưởng chính sách ưu đãi về đất đai, thuế, lao động, khoa học công nghệ, bảo hộ đầu tư... từ đó tạo động lực cho người sản xuất nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, liên kết và hình thành mô hình sản xuất khép kín. Vì vậy, việc cấp GCNKTTT đối với các trang trại chăn nuôi, trồng trọt quy mô lớn là hết sức cần thiết. 
 
Mô hình trang trại của gia đình ông Lê Văn Điển (xã Quảng Lãng, Ân Thi)
Mô hình trang trại của gia đình ông Lê Văn Điển (xã Quảng Lãng, Ân Thi)

Tuy vậy hiện nay, nhiều chủ trang trại trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không mặn mà làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận. Theo tổng hợp của Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phù Cừ, tính đến hết năm 2013, huyện có 302 trang trại, gia trại, trong đó có 40 trang trại chăn nuôi đạt tiêu chí theo Thông tư số 27. Tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay mới chỉ có “vỏn vẹn” 2 trang trại xin cấp, đổi lại GCNKTTT theo tiêu chí mới. Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết nguyên nhân chính của tình trạng này xuất phát từ nhận thức của các chủ trang trại. Nhiều chủ trang trại chưa thấy rõ được quyền lợi của việc cấp GCNKTTT nên chưa tích cực làm hồ sơ để được cấp GCNKTTT. Có những hộ do nắm bắt thông tin sai lệch nên không muốn làm hồ sơ xin cấp GCNKTTT. Số khác lại e ngại trước các thủ tục, hồ sơ cấp, đổi GCNKTTT mà theo suy nghĩ của họ là khá phức tạp. Mặt khác, tại một số địa phương chưa bố trí cán bộ chuyên trách làm công tác kiểm tra, thẩm định nên việc tuyên truyền, hướng dẫn và giải quyết thủ tục cho chủ trang trại còn nhiều hạn chế. 

Theo Thông tư số 27, việc cấp GCNKTTT sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi giao dịch với ngân hàng mà không phải thế chấp tài sản. Tuy nhiên thực tế cho thấy, khi thẩm định hồ sơ vay vốn, các ngân hàng lại có những đánh giá riêng để bảo đảm an toàn tín dụng. Ông Lê Văn Điển (xã Quảng Lãng, Ân Thi) cho biết: “Trang trại của gia đình tôi đủ điều kiện để được cấp GCNKTTT. Qua tìm hiểu, tôi biết khi sử dụng giấy chứng nhận trang trại có thể vay vốn ngân hàng mà không cần thế chấp tài sản. Đây là cơ chế thuận lợi cho các hộ chăn nuôi. Tuy nhiên, quy trình thẩm định của ngân hàng khá ngặt nghèo, thời gian thẩm định kéo dài… đôi khi không kịp thời giải quyết khó khăn về nguồn vốn cho gia đình.Vì vậy, tôi thường lựa chọn các phương án khác để giải quyết nhu cầu về vốn của gia đình”.
 
Còn theo ông Lưu Quý Xuyên (Thị trấn Ân Thi, Ân Thi):  “Hiện, gia đình tôi đã sử dụng GCNKTTT để vay 300 triệu đồng không cần thế chấp tài sản từ Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT chi nhánh huyện Ân Thi. Đây là nguồn vốn quan trọng giúp gia đình tôi khắc phục khó khăn trong quá trình sản xuất. Thế nhưng, việc vay ngân hàng với hạn mức thấp, kỳ hạn trả nợ sớm (6 tháng) đã khiến chúng tôi gặp không ít khó khăn trong việc quay vòng vốn sản xuất. Thêm vào đó, chủ trang trại chỉ được sử dụng GCNKTTT để vay vốn mà không cần thế chấp tài sản khi không còn khoản nợ vay ngân hàng liên quan đến trang trại. Chúng tôi mong muốn, các ngân hàng sẽ có những chính sách linh động, phù hợp với thực tiễn để chúng tôi được hưởng các ưu đãi tín dụng, qua đó có điều kiện để phát triển kinh tế”.
Xuất phát từ những ưu đãi cụ thể trong Thông tư số 27, bác Dương Văn Dũng (xã Chính Nghĩa, Kim Động) cũng mong muốn được cấp GCNKTTT nhưng lại “vấp” phải khó khăn: “Gia đình tôi đã phát triển mô hình kinh tế trang trại tổng hợp từ nhiều năm nay. Trang trại được xây dựng trên đất công điền thuê của UBND xã, không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên quá trình làm hồ sơ xin cấp GCNKTTT cũng gặp không ít khó khăn”.
 
Trao đổi với chúng tôi về việc cấp GCNKTTT cho các trang trại trên địa bàn tỉnh, ông Lê Văn Thắng, Trưởng phòng Kinh tế hợp tác xã (Chi cục Phát triển nông thôn) cho biết: “Việc cấp GCNKTTT chỉ được cấp sau khi trang trại hoạt động và phải có kết quả đáp ứng được các quy định của Thông tư số 27. Thực hiện Thông tư số 27, Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh đã đề xuất các chính sách phát triển kinh tế trang trại; tham mưu cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các văn bản hướng dẫn huyện, thành phố tiến hành thẩm định, cấp GCNKTTT cho các chủ hộ. Các trang trại được cấp giấy chứng nhận được tạo điều kiện vay vốn phát triển sản xuất, tham gia các lớp tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật, bồi dưỡng về kiến thức quản lý, xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu… Tỷ lệ các trang trại được cấp GCNKTTT chưa cao (mới đạt trên 18% số trang trại) chủ yếu là do việc cấp GCNKTTT còn mang tính chất hình thức, người dân chưa thấy được hiệu quả thiết thực từ việc xin cấp GCNKTTT nên vẫn còn chưa mặn mà. Thời gian tới, chúng tôi sẽ tiếp tục tham mưu, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số điều chưa phù hợp của Nghị định số 41 như: Nâng định mức cho vay tối đa với trang trại từ 500 triệu đồng lên 2 tỷ đồng; Bổ sung cơ chế hỗ trợ tài chính, ưu đãi vốn vay cho các chủ trang trại xây dựng liên kết trong sản xuất… để người dân thấy được lợi ích khi sở hữu GCNKTTT.”
 
Để đẩy nhanh hoạt động cấp GCNKTTT trên địa bàn tỉnh, thiết nghĩ các cấp, các ngành chức năng cần quan tâm hơn nữa tới việc tuyên truyền, hướng dẫn nâng cao nhận thức cho các chủ trang trại về vấn đề này. Đặc biệt là tạo điều kiện, để chủ trang trại được hưởng những ưu đãi từ các chính sách của Nhà nước. 
 
Thu Yến
 
;