Đánh giá kết quả mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp

* Chuyển gen kháng bệnh đạo ôn vào giống lúa IR1561
 
* Ngày 7.6, tại thị trấn Trần Cao (Phù Cừ), Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức hội nghị đầu bờ đánh giá kết quả mô hình sản xuất mạ khay công nghiệp phục vụ cấy máy vụ xuân 2014.
Thực hiện đề tài: Ứng dụng công nghệ sinh học để sản xuất giá thể mạ từ mùn rơm rạ và mạ khay công nghiệp phục vụ cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Hưng Yên”, năm 2014, Công ty cổ phần Công nghệ sinh học phối hợp với Công ty cổ phần Giống cây trồng Hưng Yên triển khai sản xuất giá thể mạ và sản xuất mạ khay cấy máy tại 2 địa điểm: Xí nghiệp Giống lúa Phù Cừ và tại thôn Trần Hạ, thị trấn Trần Cao (Phù Cừ). Kết quả sản xuất được 15,5 tấn giá thể mạ từ mùn rơm, rạ trên cơ sở phối trộn đất tại địa phương và mùn rơm rạ (tỷ lệ 80% đất + 20% mùn) sau đó bổ sung thêm các chất dinh dưỡng như: Đạm, lân, kali và các chất vi lượng hữu ích khác. Sau khi có giá thể mạ, ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành sản xuất mạ khay và gieo cấy được 7 ha lúa nếp tại Xí nghiệp Giống lúa Phù Cừ và 12 ha lúa Bắc thơm số 7 tại thôn Trần Hạ. Đến nay, các diện tích lúa này đang chuẩn bị cho thu hoạch. Qua đánh giá cho thấy, việc cấy máy bằng mạ khay đem lại nhiều lợi ích như: Giảm công lao động, giảm chi phí đầu tư, giảm mức độ nhiễm sâu bệnh, tăng năng suất. Hạch toán chi phí cho kết quả lợi nhuận thu được từ mô hình mạ khay cấy máy cao hơn từ 3,8 – 7,1 triệu đồng/ha so với cấy tay. 
Nhận xét, đánh giá của cơ quan chuyên môn cũng như người dân cho thấy đây là mô hình có khả năng ứng dụng cao trong thực tiễn sản xuất. Việc áp dụng rộng rãi mô hình sẽ đem lại nhiều lợi ích về kinh tế và môi trường sinh thái như: Hạn chế tình trạng đốt rơm rạ, giảm lượng thuốc BVTV sử dụng, tăng hiệu quả kinh tế…
 
* Trước đó, ngày 6.6, tại xã Nhân Hòa (Mỹ Hào), Sở Khoa học và Công nghệ đã tổ chức nghiệm thu đề tài khoa học: “Ứng dụng kỹ thuật tiên tiến trong chuyển gen kháng bệnh đạo ôn vào giống lúa IR1561 phục vụ mở rộng sản xuất giống lúa chất lượng cao của tỉnh”. 
Sau khi cấy gen kháng bệnh đạo ôn vào các cá thể giống IR1561, ban chủ nhiệm đề tài đã tiến hành tuyển chọn các cá thể đạt chất lượng để tiến hành gieo cấy ngoài thực địa. Đề tài được thực hiện từ năm 2012 đến tháng 6.2014, trong đó đã tiến hành gieo cấy ngoài thực địa 2 vụ là vụ mùa 2013 và vụ xuân 2014. Qua quan sát ngoài thực địa cho thấy diện tích lúa được chuyển gen kháng bệnh đạo ôn có khả năng kháng bệnh cao hơn, diện nhiễm ít hơn và mức độ nhiễm cũng nhẹ hơn.
Qua đánh giá của hội đồng khoa học và công nghệ tỉnh với 5 trên 7 thành viên tham dự đã cho xếp loại đề tài đạt loại khá. Các thành viên hội đồng khoa học và công nghệ tỉnh và khách mời là đại diện các địa phương đều cho rằng việc chuyển gen kháng bệnh đạo ôn vào một giống lúa là việc làm rất có ý nghĩa trong khoa học cũng như trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên việc lựa chọn giống lúa IR1561 của ban chủ nhiệm đề tài là chưa hợp lý bởi giống lúa này hiện còn rất ít địa phương gieo cấy với diện tích gieo cấy không nhiều và không còn nằm trong cơ cấu giống của tỉnh. Do vậy, để đề tài có tính thực tiễn áp dụng cao hơn, ban chủ nhiệm, các nhà khoa học nên ứng dụng kỹ thuật chuyển gen kháng bệnh đạo ôn vào các giống lúa khác, trong đó đặc biệt là giống nếp thơm Hưng Yên.
 
Mai Nhung
 
 
;