Nông nghiệp Hưng Yên nỗ lực vươn tầm cao mới

10:48, 07/12/2016
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, ngành Nông nghiệp và PTNT cùng với nông dân trong tỉnh luôn là lực lượng trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn. Qua các thời kỳ, nhất là sau gần 20 năm kể từ khi tái lập tỉnh, nông nghiệp, nông thôn tỉnh có nhiều khởi sắc, góp phần vào sự phát triển chung của tỉnh.
Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNN Nguyễn Văn Doanh thăm mô hình trồng cây có múi ở huyện Khoái Châu
Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNN Nguyễn Văn Doanh thăm mô hình trồng cây có múi ở huyện Khoái Châu
Năm 1997, thời điểm tái lập tỉnh, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, biến động bất lợi của thị trường trong và ngoài nước, tỉnh đã chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, ban hành nhiều nghị quyết, chương trình, đề án về phát triển nông nghiệp, nông thôn, qua đó đã góp phần làm thay đổi tập quán sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, lạc hậu sang sản xuất hàng hóa để đáp ứng nhu cầu của thị trường. Nhờ vậy, năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi đều tăng nhanh, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch tích cực; nông thôn ngày một đổi mới. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 1997 – 2015 đạt hơn 3,2%/năm; năm 2015, tổng giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản của tỉnh đạt hơn 11 nghìn tỷ đồng, tăng gần 5 lần so với năm 1997.
 
Trong gieo cấy lúa đã chuyển đổi nhanh cơ cấu trà vụ và cơ cấu giống, vụ xuân gieo cấy 100% diện tích lúa trà xuân muộn; vụ mùa gồm trà mùa sớm và mùa trung, chủ yếu sử dụng giống mới, ngắn ngày, có năng suất và chất lượng cao, năng suất lúa bình quân trên 62 tạ/ha/vụ, tăng hơn 10 tạ/ha so với năm 1997 và luôn đứng trong tốp đầu về năng suất lúa của các tỉnh, thành phố trong khu vực Đồng bằng sông Hồng. Diện tích lúa chất lượng cao đạt trên 59% diện tích gieo cấy, tăng 2 lần; năng suất, sản lượng cây rau màu thực phẩm tăng hơn 2 lần so với khi mới tái lập tỉnh.
 
Cây ăn quả tăng nhanh về diện tích và sản lượng với những giống cây trồng có giá trị, hiệu quả kinh tế cao được đưa vào sản xuất như: Nhãn lồng Hưng Yên, quýt Đường Canh, cam V2, bưởi Phú Diễn, bưởi Hoàng Trạch, chuối tiêu hồng, chuối tây… cho thu lãi khoảng 200 - 300 triệu đồng/ha/năm. Trên địa bàn tỉnh đã có nhiều địa phương hoàn thành dồn thửa đổi ruộng, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa theo mô hình “cánh đồng lớn”; mô hình đưa cơ giới hóa vào khâu làm đất, gieo cấy, thu hoạch đối với cây lúa cho hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất đại trà từ 8 - 20 triệu đồng/ha; vùng trồng ngô nếp cho thu lãi khoảng 70 triệu đồng/ha/năm; vùng trồng bí cho thu lãi khoảng 50 triệu đồng/ha/năm, vùng trồng dưa chuột cho thu lãi khoảng 140 triệu đồng/ha/năm, nâng giá trị thu nhập trên 1 ha đất canh tác năm 2015 đạt 150 triệu đồng, tăng hơn 5 lần so với năm 1997.
 
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi phát triển khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng bình quân trên 6%/năm. So với năm 1997, đến nay đàn lợn của tỉnh tăng gần 2 lần, trong đó tỷ lệ “nạc hóa” đạt 80%; đàn trâu, bò giảm 10% nhưng sản lượng thịt tăng 3,6 lần do đàn bò đã được “Sind hóa” 100%; đàn gia cầm tăng 1,6 lần, nâng sản lượng thịt hơi các loại đạt khoảng 130,8 nghìn tấn/năm, tăng 3,6 lần. Cùng với đó, cơ cấu giống thủy sản cũng chuyển đổi theo hướng tăng hiệu quả kinh tế; một số loài thủy đặc sản được đưa vào sản xuất như: Mô hình nuôi ếch, lươn, cua đồng, cá rô đồng, cá rô đầu vuông và nuôi ba ba cho hiệu quả kinh tế cao. 
 
Nhằm hoàn thiện và từng bước hiện đại hóa hệ thống thủy lợi,  từ khi tái lập tỉnh đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xây dựng được 15 trạm bơm đưa vào phục vụ sản xuất; hiện có 5 trạm bơm đang xây dựng, hoàn thiện, khi hoàn thành sẽ cơ bản đáp ứng tưới, tiêu chủ động được gần 100% diện tích sản xuất và dân sinh. Hệ thống đê điều được tu bổ thường xuyên, đến nay dự án đầu tư xây dựng, củng cố, nâng cấp đê tả sông Hồng đoạn từ huyện Văn Giang đến thành phố Hưng Yên cơ bản hoàn thành, góp phần bảo vệ đê, kết hợp làm đường giao thông, nâng cao hiệu quả phòng, chống lụt, bão và tạo thuận lợi cho giao thương với các tỉnh, thành phố cũng như phát triển kinh tế vùng bãi. 
 
Sau gần 20 năm tái lập tỉnh, cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, diện mạo nông thôn có nhiều khởi sắc, đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện và nâng cao. Đến những xã nông thôn mới của tỉnh, đường làng, ngõ xóm sạch sẽ được trải bê tông rộng rãi tới từng nhà, nhiều tuyến đường trục chính được chia thành 2 làn đường, những công trình còn thơm mùi sơn mới. Và nhất là nhà ở của người dân nông thôn đã có sự đổi thay hoàn toàn. Trong nhiều thôn, xóm, nhà tầng san sát đẹp như phố nhưng xen lẫn là cây cối xanh tươi, ao hồ mát mẻ, tạo cảnh quan tươi đẹp và thanh bình. Cơ sở hạ tầng nông thôn đã có bước phát triển vượt bậc, từng bước hoàn thiện, tạo thuận lợi cho nhân dân đi lại, sản xuất. 
 
Theo Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh, dựa trên 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới để đánh giá về cơ sở hạ tầng nông thôn, đến đầu tháng 10.2016 đã có 114/145 xã trong tỉnh đạt tiêu chí về giao thông, 102 xã đạt tiêu chí thủy lợi, 61 xã đạt tiêu chí trường học, 117 xã đạt tiêu chí về chợ, 104 xã đạt tiêu chí về y tế, 139 xã đạt tiêu chí nhà ở dân cư. Năm 1997, thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt 4,5 triệu đồng, năm 2015 đã tăng lên trên 40 triệu đồng, tăng gần 9 lần. Đến tháng 10.2016, toàn tỉnh đã có 113/145 xã đạt tiêu chí nông thôn mới về thu nhập, 44 xã được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn nông thôn mới. 
 
Ông Nguyễn Văn Doanh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và PTNT cho biết: Những kết quả đạt được trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn trong thời gian qua đã góp phần vào thành tựu chung của tỉnh sau gần 20 năm tái lập tỉnh. Phát huy những kết quả đạt được, trong những năm tới, các ngành, địa phương tiếp tục thực hiện có hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững; Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 nhằm tập trung khai thác và phát huy tốt lợi thế của tỉnh, xây dựng và phát triển các vùng chuyên canh quy mô lớn, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, kết nối sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch và tiêu thụ sản phẩm. Duy trì tốc độ tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh thông qua tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, đáp ứng nhu cầu, thị hiếu người tiêu dùng trong nước và hướng đến xuất khẩu. Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn. Đến năm 2020, toàn tỉnh phấn đấu chuyển đổi khoảng 2,5 nghìn ha đất gieo cấy lúa hiệu quả thấp sang trồng cây hàng năm, từ đó xây dựng vùng sản xuất chuyên canh và thâm canh cây trồng với quy mô lớn để đạt chỉ tiêu giá trị thu nhập đạt 210 triệu đồng/ha/năm. Đẩy mạnh tái cơ cấu ngành chăn nuôi, thủy sản theo hướng phát triển trang trại, công nghiệp quy mô lớn, nông hộ an toàn và bền vững, phấn đấu giá trị chăn nuôi - thủy sản chiếm trên 60% trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp; tăng cường xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý và quản lý chất lượng sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng. Tổ chức lại sản xuất theo hướng tích tụ, tập trung ruộng đất, đẩy mạnh cơ giới hóa, phát triển kinh tế hợp tác; gắn tái cơ cấu ngành nông nghiệp với đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 toàn tỉnh có 70% số xã đạt chuẩn nông thôn mới…  
 
Đức Toản – Vi Ngoan                                                 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)