Thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ ngành dệt may

Trong định hướng phát triển công nghiệp của tỉnh, ngành dệt may và cơ khí được xác định là những ngành chủ lực trong những năm tới. Tuy nhiên, hiện tại CNHT cung ứng nguyên phụ liệu cho các ngành này lại thiếu và yếu. Phần lớn các DN dệt may trên địa bàn tỉnh chủ yếu sản xuất hàng gia công cho các DN nước ngoài nên bị lệ thuộc về thị trường và chịu nhiều thua thiệt hơn so với DN sản xuất làm hàng FOB (mua nguyên liệu - bán thành phẩm). Giá trị xuất khẩu hàng dệt may tuy lớn nhưng chủ yếu là hàng gia công, giá trị gia tăng thấp. Có những nguyên phụ liệu đơn giản như kim, chỉ, dây néo, móc áo, bao bì, nhãn mác... nhưng vẫn phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty TNHH may Minh Đức (Yên Mỹ)
Sản xuất hàng may mặc xuất khẩu tại Công ty TNHH may Minh Anh (Yên Mỹ)
Qua đánh giá của Sở Công Thương, đến hết tháng 7 của năm nay, sản lượng hàng may mặc của các DN trên địa bàn tỉnh đạt 99,7 triệu sản phẩm quần, áo, tăng trên 8,6% so với cùng kỳ năm 2016. Cùng thời gian này, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt trên 794,5 triệu USD, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm 2016. 
 
Ngành dệt may được đánh giá là một trong những ngành công nghiệp đi đầu trong phát triển, mở rộng thị trường trong giai đoạn kinh tế hội nhập. Tuy nhiên, hàng dệt may trên địa bàn tỉnh đang phải cạnh tranh quyết liệt với nhiều nước. 
 
Theo nhận định của ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh: Tuy sản phẩm của ngành dệt may rất đa dạng nhưng chủ yếu là sản xuất theo phương thức gia công nên hầu hết nguyên phụ liệu đều được khách hàng đặt hàng và cung cấp. Mặc dù trong thời gian qua tỉnh có định hướng chuyển đổi phương thức kinh doanh của ngành may từ gia công sang làm chủ thiết kế nhưng vẫn chưa phát huy được hiệu ứng. Do các DN còn hạn chế trong khâu thiết kế, việc xây dựng thương hiệu thời trang xuất khẩu sản phẩm mang thương hiệu Việt gặp nhiều khó khăn.
 
Theo đánh giá của ngành chức năng, số lượng DN may trên địa bàn tỉnh sản xuất theo phương thức gia công đơn giản vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Sản xuất theo phương thức FOB (mua nguyên liệu, bán thành phẩm) chỉ chiếm khoảng 13% và ODM (thiết kế, phát triển nguyên phụ liệu, sản xuất, giao hàng) chỉ chiếm 2% trong tổng số các DN xuất khẩu hàng dệt may, do đó giá trị thặng dư của ngành dệt may rất thấp vì giá trị nguyên phụ liệu chiếm từ 60 - 70% cộng với giá gia công từ 20- 25% giá trị sản phẩm. 
 
Bà Phạm Thị Phương Hoa, Tổng Giám đốc Tổng công ty may Hưng Yên – Công ty cổ phần cho biết: Hiện nay, CNHT của ngành dệt may còn yếu chưa đáp ứng được yêu cầu của khách hàng về mức độ phong phú đa dạng chủng loại, giá thành thiếu cạnh tranh. Để ngành dệt may phát triển bền vững tỉnh cần có chủ trương và quyết tâm phát triển CNHT. Việc phát triển CNHT không chỉ giúp các DN nâng cao lợi thế cạnh tranh với các nước trong khu vực thông qua việc rút ngắn thời gian sản xuất mà còn phát triển được ngành công nghiệp thời trang. Trong chuỗi thiết kế, sản xuất, tiêu thụ thì giá trị thặng dư tập trung ở các khâu thiết kế và tiêu thụ (nhãn hiệu, hệ thống phân phối). Sự phụ thuộc quá nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu đang là thách thức đối với DN dệt may. Do vậy nếu các DN dệt may không tìm cách nâng cao tỷ lệ nội địa hóa thì cũng không thể được hưởng các chính sách ưu đãi thuế từ các hiệp định song phương, đa phương mang lại.
 
Bà Phan Thị Thu Nga, Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thiên Sơn, đóng trên địa bàn xã Thiện Phiến (Tiên Lữ) cho biết: Một trong những điểm yếu của ngành dệt may là ngành dệt và ngành CNHT chưa phát triển tương xứng với vị trí của ngành dệt may trong tổng thể ngành công nghiệp. Hầu hết DN dệt may có quy mô vừa và nhỏ nhiều năm liền không được đầu tư nên thiết bị cũ, lạc hậu. Nguyên nhân là do chi phí đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết bị lớn đòi hỏi phải có nguồn vốn đủ lớn.
 
Để thúc đẩy phát triển CNHT cho ngành dệt may, một số DN kiến nghị: Cùng với việc đẩy mạnh thu hút DN đầu tư phục vụ cho CNHT ngành dệt may tại Khu công nghiệp dệt may Phố Nối, tỉnh cần có chính sách ưu đãi cho các DN đầu tư trong khu công nghiệp nguyên phụ liệu về tiền thuê đất, thuế VAT, thu nhập, miễn giảm thuế tùy theo chủng loại sản phẩm cần khuyến khích đầu tư, hỗ trợ vốn đầu tư xây dựng cơ bản và thiết bị. Đồng thời, thành lập quỹ hỗ trợ, ưu đãi tín dụng trong các trường hợp: DN thực hiện phương thức FOB cho các đơn hàng có tỷ lệ nội địa hóa từ 50% trở lên, DN sản xuất thử nghiệm phụ tùng, vật tư thay thế ngoại nhập (thuốc nhuộm, tẩy) hay thiết bị trong dây chuyền sản xuất sản phẩm CNHT. 
 
Bên cạnh đó, các DN dệt may trên địa bàn tỉnh cần phải xây dựng chiến lược cụ thể, huy động mọi nguồn lực để tập trung đầu tư chuyển đổi phương pháp gia công truyền thống CMT (cắt - ráp - hoàn thiện) sang phương thức FOB, từ đó góp phần làm tăng tỷ lệ nội địa hóa, giảm nhập khẩu, giảm chi phí sản xuất và được hưởng lợi từ việc giảm thuế. 
 
Ngoài ra, các DN dệt may cũng cần nhanh nhạy nắm bắt thông tin, củng cố nguồn lực chất lượng cao, đầu tư phát triển về công nghệ, kỹ năng quản lý, tăng năng lực cạnh tranh để có thể tận dụng tối đa cơ hội và ứng phó với những thách thức từ các hiệp định thương mại.
 
Đào Ban
 
 
 
 
 
;