Nghề làm nón lá Mão Cầu

Chiếc nón lá từ bao đời nay đã trở nên gần gũi, thân thuộc với mỗi người dân Việt Nam. Hình ảnh chiếc nón lá mộc mạc, duyên dáng không chỉ là vật dụng che mưa che nắng, mà còn chứa đựng nét văn hóa của dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của thời gian, mặc dù nghề làm nón không còn hưng thịnh nhưng những người dân thôn Mão Cầu, xã Hồ Tùng Mậu (Ân Thi) vẫn đang âm thầm “giữ hồn” nón Việt. 
Nhiều hộ dân địa phương vẫn duy trì nghề làm nón lá
Nhiều hộ dân địa phương vẫn duy trì nghề làm nón lá
Chúng tôi về con xóm nhỏ thôn Mão Cầu để gặp những người phụ nữ khéo tay, đảm đang làm nên chiếc nón lá vang danh xứ nhãn một thời. Vừa bỏm bẻm nhai trầu, bà Nguyễn Thị Minh vừa ngâm nga những vần thơ ngọt ngào “Sao anh không về thăm quê em/ Ngắm em chằm nón buổi đầu tiên/Bàn tay xây lá, tay xuyên nón/Mười sáu vành, mười sáu trăng lên". Nụ cười móm mém cùng âm sắc ngọt ngào của bài thơ làm bà Minh hồi tưởng về thời hoàng kim của nón lá Mão Cầu. Bà Minh cho hay, người dân trong thôn không ai biết chính xác nghề này có từ khi nào, cứ đời trước truyền cho đời sau, nghề làm nón duy trì cho đến tận bây giờ. Ban đầu chỉ có phụ nữ và trẻ nhỏ học khâu nón, khi thấy nón lá được nhiều người mua, người khâu nón có thêm thu nhập thì đàn ông ở Mão Cầu cũng học làm nón. Nghề làm nón vừa nhàn lại tranh thủ được mọi lúc mọi nơi, có người làm nhanh chỉ cần ngồi với nhau dăm ba câu chuyện cũng xong một chiếc nón. Đây là một nghề dễ học, phù hợp với nhiều lứa tuổi, hơn nữa lại tạo thêm thu nhập cho gia đình, nên được người dân theo học và nhân rộng. Có thời điểm lên đến 90% số hộ, hàng trăm lao động trong thôn làm nón lá. Đặc biệt ở thôn Mão Cầu không chỉ có phụ nữ mới biết khâu nón mà đàn ông cũng rất rành trong đường kim mũi chỉ.
 
Nón lá Mão Cầu được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng bởi sự thanh thoát, đẹp và chắc chắn. Tất cả những vật liệu làm ra nón lá Mão Cầu đều phải nhập từ nơi khác, thế nhưng tình yêu nghề làm nón đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân nơi đây. Từ đứa bé còn để chỏm đến cụ già đều nhuần nhuyễn các công đoạn để làm ra chiếc nón. Một chiếc nón đẹp thì đầu tiên cỗ vòng phải tròn, thứ hai là dây lá phải phẳng và trắng, thắt nón phải nhẵn và mau. Để làm ra chiếc nón trắng, mỏng, bền và đẹp, trước tiên phải có vật liệu, dụng cụ đạt yêu cầu kỹ thuật như: Khuôn gỗ hình chóp nón, kim khâu dùng để chằm; chỉ màu các loại, nilon để chằm nón; bàn ủi sắt dùng để ủi cho lá thẳng và láng; dầu chống ẩm bằng nhựa thông. Lá nón sau khi nhập về phải phơi sương, sau đó  đem sấy, phơi khô rồi chuốt cho phẳng phiu mà không giòn, không rách. Vòng nón làm bằng tre nứa vót nhỏ, đều, khi nối phải tròn trịa, không được chắp, không gợn. Sau khi hoàn thành khung nón, đến công đoạn quay nón. Các tệp lá được xếp lại cắt vát một đầu rồi dùng ghim cố định lại trên chóp nón, sau đó bắt đầu quay lá. Quay nón và khâu nón là hai quy trình đòi hỏi kỹ thuật cao nhất của nghề làm nón. Bàn tay của người thợ bao giờ cũng phải khéo léo, cẩn thận, tỉ mỉ trong từng chi tiết ở mỗi công đoạn khác nhau, bởi nếu ngay từ công đoạn đầu tiên mà làm không tốt sẽ dễ làm cho lá bị rách. Cách cầm kim cũng thật mềm mại, thoăn thoắt trong từng mũi khâu, thẳng đều từ vòng bên ngoài đến vòng bên trong. Khi làm xong một chiếc nón, phải lấy lửa để hun cho trắng nón, sau đó phết quang dầu cho bóng và không bị mốc, gặp mưa vẫn thẳng, không bị co lại. Để chiếc nón đẹp thêm, ngoài các hoa văn còn kết hợp thêm bằng chữ màu hình hoa sao. Cứ thế, bí quyết, kinh nghiệm và kỹ thuật làm nghề cũng như tâm huyết làm nón lá được truyền từ đời này sang đời khác.
 
Một thời phát triển là thế mà giờ đây nghề nón lá Mão Cầu đang đứng trước nguy cơ mai một. Đang thoăn thoắt chuốt lá, khâu nón, biến những chiếc lá vô tri vô giác thành vật dụng hữu hiệu cho mọi người, nhưng khi đề cập đến tương lai của nghề thì các cụ cao niên trong thôn bày tỏ sự luyến tiếc: “Chẳng biết với tình trạng như hiện nay thì nghề làm nón lá ở Mão Cầu có thể tồn tại bao lâu nữa?”. Ông Nguyễn Văn Thụ, trưởng thôn Mão Cầu chia sẻ: “Nghề làm nón lá đã giải quyết việc làm thường xuyên cho nhiều lao động trong làng, đặc biệt là người phụ nữ, vừa lo việc đồng áng, quán xuyến việc nhà, lại có nguồn thu nhập hàng ngày. Tuy nhiên, hiện nay, thu nhập từ làm nón rất thấp nên nhiều người, đặc biệt là thế hệ trẻ không mấy mặn mà với nghề. Số hộ làm nón hiện nay bằng 1/10 so với trước”. Chiếc nón lá không chỉ đơn thuần là vật dụng che nắng, che mưa mỗi khi các bà, các mẹ ra đồng, đi chợ mà còn góp phần tôn vinh vẻ đẹp, nét duyên dáng, sự bình dị của người phụ nữ Việt Nam. Thiết nghĩ, để giữ hồn cho nghề nón lá Mão Cầu, bêb chăng người dân và chính quyền địa phương liên kết nghề làm nón lá với ngành du lịch, đưa làng nghề thành điểm tham quan, du lịch hấp dẫn thu hút khách thập phương. Khách đến thăm làng nghề có thể xem quy trình tạo ra một chiếc nón hay tự tay làm các công đoạn tạo thành chiếc nón hoàn chỉnh do thợ làm nón hướng dẫn. 
 
Chia tay làng nón lá Mão Cầu, hình ảnh các mẹ, các chị ngồi quây quần dưới hiên nhà khâu nón lá, gợi cho chúng tôi cảm giác bình yên đến lạ thường. Hy vọng thời gian tới, các cấp chính quyền địa phương sẽ triển khai nhiều giải pháp để nghề làm nón lá Mão Cầu phát triển.
 
Vũ Huế
 
;