Những anh hùng quê Nhãn

Có dịp về thăm, trò chuyện với những người đã trải qua một thời mưa bom bão đạn để bảo vệ độc lập, tự do cho Tổ quốc, chúng tôi có cảm nhận sâu sắc hơn về tình yêu quê hương, đất nước, tinh thần quyết chiến, quyết thắng, sự mưu trí, anh dũng… của những con người đã góp phần làm nên trang sử vàng dân tộc.
Nữ du kích Hoàng Ngân Trương Thị Tám (xã Đông Kết, Khoái Châu)
Nữ du kích Hoàng Ngân Trương Thị Tám (xã Đông Kết, Khoái Châu)
* Người nữ du kích và những chiến công
 
“Gái Bãi Sậy, sông Hồng” là bài thơ viết về Nữ du kích Hoàng Ngân Trương Thị Tám (xã Đông Kết, Khoái Châu): “Đơn giản có gì đâu/Con gái vùng du kích/Tuổi bẻ gãy sừng trâu/Đòn gánh dồn đánh địch…”. Khi vừa tròn đôi mươi, Trương Thị Tám đã chỉ huy và cùng các chị em trong đội nữ du kích xã Đông Kinh (nay là xã Đông Kết, Khoái Châu) tham gia du kích, dùng đòn gánh đánh Tây. Bà Tám cho biết: Đến khoảng những năm 1951, phong trào nữ du kích Hoàng Ngân trên địa bàn xã bắt đầu phát triển với 30 chị em tham gia phong trào. Trên cương vị là xã đội phó, chỉ huy trưởng đội nữ du kích, hàng tối, bà Tám đều tổ chức huấn luyện cho chị em dùng kiếm, đòn gánh, gậy… để chiến đấu với giặc Pháp. Bà Tám và các chị em trong đội nữ du kích đã tham gia hàng chục trận đánh. Trong đó, tiêu biểu nhất là ngày 26.6.1953, bà Tám và 7 nữ du kích xã Đông Kinh đã giả trang gánh chuối, bưởi đi bán… để đánh Tây ở bốt Phương Trù. Vượt qua các vọng gác, các nữ du kích đã dùng đòn gánh đánh chết 1 tên lính Pháp, làm bị thương 1 tên, thu được 1 khẩu súng, 1 hòm đạn… 8 chị em rút lui an toàn. Hiện, đòn gánh của bà đang được lưu giữ và trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam. Ngoài trận đánh này, bà còn mưu trí, dũng cảm đảm nhiệm vai trò trinh sát dẫn đường để bộ đội tiến đánh bốt Phương Trù vào tháng 8.1953. Ngày 2.9.1957, bà vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huy hiệu của Người khi tham gia duyệt binh tại Quảng trường Ba Đình. Phần thưởng Bác trao chính là nguồn động viên để bà sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. 

Sau đó, trên cương vị là Chủ tịch UBND xã rồi Bí thư Đảng ủy xã Đông Kết, bà cùng tập thể Đảng ủy – HĐND – UBND xã đã thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp động viên nhân dân địa phương sẵn sàng chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến lớn miền Nam; phát triển phong trào phụ nữ trên địa bàn xã… 
 
Năm nay, đã 85 năm tuổi đời, 64 năm tuổi Đảng, mang trên mình nhiều huân chương, huy chương, người nữ du kích Hoàng Ngân xưa luôn tự nhủ: Tuổi cao, chí càng cao, luôn giữ vững niềm tin theo Đảng, động viên con cháu chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước…
 
* Bộ đội Cụ Hồ luôn quyết tâm, gắng sức
 
Nay, tóc đã pha sương, da đã nhuốm đồi mồi, sức khỏe đã giảm sút nhưng Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính (xã Vân Du, Ân Thi) vẫn còn khá minh mẫn. Khi vừa tròn 20 tuổi, năm 1960, từ thôn Kênh Bối, xã Vân Du (Ân Thi), chàng thanh niên Vũ Đức Chính tạm biệt quê hương lên đường ra chiến trận làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Anh tân binh trẻ được phân công về Trung đoàn 290, Binh chủng Ra đa, Quân chủng Phòng không – Không quân. Tại đây, đồng chí Chính được cử đi học kỹ thuật sửa chữa máy ra đa. Trở về đơn vị, đồng chí tích cực học tập, nâng cao trình độ của bản thân. Những năm 1967, 1968, giặc Mỹ thực hiện chiến tranh cục bộ ở miền Nam kết hợp với chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng sử dụng máy bay B52 để đánh phá nhà cửa, kho tàng của ta. Trong khi đó, một chiếc máy bay B52 được trang bị nhiều tần số khác nhau, làm nhiễu các đài ra đa và các khí tài hỏa lực phòng không… gây khó khăn trong phát hiện và bắn hạ máy bay. Trước tình hình đó, đồng chí Chính đã cải tiến mạch điện hệ thống quay, thay đổi cánh sóng ra đa, đặt tần số phụ cho máy thu phát khi có nhiễu, thay đổi máy đo cao để thay đổi cánh sóng thu của ra đa, bắt mục tiêu bay thấp, bắt mục tiêu có nhiễu tích cực của máy bay B52… Qua đó, giúp quân ta phát hiện và tiêu diệt được máy bay B52 của đế quốc Mỹ, góp phần hạn chế tổn thất về người và của. Đồng chí còn được Trung đoàn giao nghiên cứu, thiết kế đưa máy ra đa cảnh giới lên núi cao. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn đòi hỏi sự tỉ mỉ, độ chính xác cao. Máy hoàn thành có khả năng phát hiện tốt mục tiêu bay thấp và mục tiêu bay xa trên 400 km, khống chế các sân bay của Philippin, Thái Lan, nơi có máy bay B52 đi đánh phá miền Bắc và miền Nam nước ta. Sáng kiến kinh nghiệm này đã được áp dụng trong toàn binh chủng.
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính (xã Vân Du, Ân Thi)
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Vũ Đức Chính (xã Vân Du, Ân Thi)
Với những thành tích của bản thân, năm 1978, đồng chí vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Trở về quê hương năm 1990, đồng chí được giao đảm nhiệm làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã rồi Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã. Dù ở trên cương vị nào, đồng chí cũng nhiệt huyết, cố gắng hoàn thành mọi nhiệm vụ. Đồng chí Chính tâm niệm: “Là người lính Cụ Hồ dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, tôi luôn cố tâm, gắng sức hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, góp sức mình để xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.”
 
* Những ngày chốt giữ Thành cổ Quảng Trị
 
Dù sức khỏe chẳng còn tráng kiện, lời nói chẳng còn âm vang như thời xông pha trận mạc nhưng trong cuộc trò chuyện với chúng tôi, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Mến (xã Lạc Hồng, Văn Lâm) hầu như không bỏ sót một chi tiết nào suốt những năm tháng vào sinh ra tử, cùng đồng đội chiến đấu với kẻ thù, bảo vệ Tổ quốc. 
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Mến (xã Lạc Hồng, Văn Lâm)
Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đỗ Văn Mến (xã Lạc Hồng, Văn Lâm)
Tháng 4.1972, Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo do ông làm Tiểu đoàn trưởng được giao nhiệm vụ trực tiếp chốt giữ trong Thành cổ Quảng Trị. Trong suốt 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ năm 1972, Tiểu đoàn K3 - Tam Đảo vừa chốt giữ trong Thành cổ, vừa thu hút hỏa lực của địch để chủ lực của ta ở vòng ngoài tiêu diệt địch. Với cương vị là Tiểu đoàn trưởng, ông đã mưu trí, dũng cảm, trực tiếp chỉ huy cán bộ, chiến sỹ tiểu đoàn chiến đấu hàng trăm trận lớn nhỏ để bảo vệ Thành cổ. Xúc động nghẹn ngào khi nói về 81 ngày đêm chiến đấu tại Thành cổ, Đại tá Mến cho biết: 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ, bom đạn quân thù trút xuống như mưa, xương máu bao chiến sỹ đã đổ xuống nhưng chúng tôi đã giữ vững lời thề danh dự bảo vệ Thành cổ.
 
Từ ngày 10.7.1972, kẻ địch dùng nhiều loại bom, pháo và hỏa lực của xe tăng bắn phá dữ dội vào trận địa suốt ngày đêm. Chúng tổ chức nhiều đợt tấn công ở cấp đại đội và tiểu đoàn. Song, được sự chi viện pháo binh của các đơn vị bạn, Tiểu đoàn K3 – Tam Đảo vẫn kiên cường đánh trả quyết liệt, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Ngày 12.7.1972, tướng ngụy ra lệnh cho các đơn vị bằng mọi giá phải tái chiếm Quảng Trị. Chúng chia quân làm 3 mũi đồng loạt tấn công bắn phá dữ dội, trọng điểm là trận địa Thành cổ. Trên cương vị là chỉ huy tiểu đoàn, đồng chí Mến trực tiếp liên lạc với cấp trên đề nghị pháo chiến dịch chi viện và lệnh cho Đại đội 12 dùng hỏa lực cối 82 ly, cối 60 ly và súng 12,7 ly bắn thẳng vào đội hình tiến công của địch... Với phương án tác chiến đó, trong suốt 3 ngày địch dùng cả phi pháo bắn phá và tổ chức nhiều đợt tấn công nhưng đều bị đánh bật ra khỏi Thành cổ. Liên tiếp nhiều ngày sau đó, chúng vừa công phá vừa phái nhiều tổ biệt kích lấn chiếm trận địa. Dưới sự chỉ huy của đồng chí Mến, ta đã lợi dụng hầm hào công sự tấn công chia cắt đội hình và tiêu diệt địch. Song, lực lượng của đơn vị cũng bị thương vong khá nhiều. Sau khi nhận được điện của Bộ Tư lệnh chiến dịch yêu cầu: “Tiểu đoàn K3 bằng mọi giá phải giữ vững Thành cổ, kiên quyết không cho địch cắm cờ, phải bảo đảm an toàn cho từng mét đất trong thành”, cả tiểu đoàn đều thề quyết tử: “K3 - Tam Đảo còn - Thành cổ Quảng Trị còn, dù phải hy sinh đến người lính cuối cùng”.
 
Đầu tháng 9.1972 là giai đoạn ác liệt nhất. Quân địch liên tục dùng lực lượng quy mô cấp trung đội, đại đội kết hợp với hỏa lực bắn phá liên tục và dày đặc tiến công vào thành. Dù liên tục phải chống chọi với nhiều đợt địch tấn công nhưng quân ta vẫn quyết chiến đấu để giữ trọn lời thề với Thành cổ. Ngày 16.9.1972, K3 – Tam Đảo được lệnh rút lui chiến thuật ra khỏi Thành cổ. 
 
Ngày 23.9.1973, Tiểu đoàn K3, Tỉnh đội Quảng Trị đã được Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Đồng chí Đỗ Văn Mến sau khi rời Thành cổ tiếp tục tham gia chiến đấu trên những chiến trường khác cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Về nghỉ hưu với quân hàm đại tá, ông vẫn luôn giữ trong mình phẩm chất của người lính Cụ Hồ, luôn tích cực tham gia các phong trào ở địa phương. Năm 2009, ông được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chỉ huy chiến đấu và trực tiếp chiến đấu trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị năm 1972. 
 
Thu Yến 
 
;