Kỷ vật của ba

Sáng dậy, ba tôi thắp nén nhang lên bàn thờ mẹ, rồi tay run run cầm cái hộp cũ trong tủ ra ngắm nghía. Trong hộp là chiếc áo nâu đã bạc in hình lá cờ và hai chữ chiến thắng. Đó là kỷ vật ngày xưa mẹ tặng ba trong chiến trường.
 
Mỗi lần tôi hỏi ba về câu chuyện ba gặp mẹ, ba tôi lại không kìm nén được cảm xúc. Đó là một câu chuyện dài trong những ngày chiến tranh ác liệt. Năm 1965, theo tiếng gọi quê hương, ba tôi lúc đó 19 tuổi lên đường nhập ngũ và đóng quân tại Quảng Trị. Nơi khói lửa chiến tranh nhuốm hết cả một vùng, máy bay địch quần lượn trên đầu, rẽ từng ngọn cỏ. Đa số bộ đội ở đây đều là lính trẻ xa nhà, tầm tuổi như ba tôi. Ba tôi kể, bộ đội sống xa nhà, thiếu thốn tình cảm của người thân nên mọi người sống rất vui vẻ và niềm nở để quên đi những tháng ngày gian khổ. Mỗi lần ai đó nhận được thư, cả tiểu đội ngồi đọc chung rồi cười hạnh phúc. Nơi ấy, có người lính khi ngã xuống về với đất mẹ tay vẫn nắm chặt lá thư. Chợt tôi hiểu ra rằng, có sống trong bom đạn, con người ta mới hiểu được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Và những cái chết ấy là bất tử, là mãi mãi không bao giờ chết.
 
Năm 1969, trong một trận chiến với giặc, ba tôi bị thương nặng. Cũng chính thời khắc ấy đã sắp đặt cho ba tôi gặp mẹ tôi. Mẹ tôi là y tá. Trước đó, mẹ tôi là nữ du kích. Sau đó được cấp trên cho đi học lớp y tá phục vụ chiến trường. Một lần, mẹ tôi được tăng cường đi đơn vị khác để tiếp máu cho các bộ đội bị sốt rét và mẹ đã gặp ba trong hoàn cảnh như thế. Khi thấy ba tôi bị thương nặng, mẹ tôi không kịp suy nghĩ gì, vội vã pha nước chanh, tiêm thuốc, xoa dầu và nấu chút cháo cho ba tôi ăn. Trong lúc hôn mê, ba chỉ thấy thấp thoáng bóng dáng một người con gái da trắng, mắt đẹp đang chăm sóc cho mình. Sang đến đêm hôm sau, sức khỏe ba tôi dần phục hồi, mẹ tôi vẫn chăm sóc, thuốc men cho ba. Đến lúc ba khỏe hẳn cũng là lúc mẹ tôi trở về địa bàn. Trước khi đi, ba và mẹ có nói chuyện với nhau một hồi lâu, ba ngỏ ý xin mẹ địa chỉ nếu có dịp sẽ ghé thăm. Mẹ đồng ý, trước khi đi mẹ tôi còn khoác lên người ba một chiếc áo màu nâu có in hình lá cờ và hai chữ chiến thắng thêu bằng tay. Ba tôi gói địa chỉ và chiếc áo cất vào trong một chiếc hộp nhỏ. Đi đâu ba cũng mang theo chiếc hộp đó bên mình. 
 
Những ngày sau đó, các trận chiến kéo dài liên miên không đủ để làm người lính còn nghĩ về chuyện xa xôi. Và rồi dù có ở hai nửa chiến tuyến hay “anh ở đầu sông, em cuối sông” thì họ vẫn đến được với nhau như duyên nợ vậy. Tình cờ, trong một lần ba tiếp đạn gần đơn vị của mẹ, sau một ngày làm nhiệm vụ, ba xin đội trưởng cho ở lại một ngày giải quyết chút việc riêng, ba đã đến tìm gặp mẹ. Nhìn thấy ba, nhìn lại chiếc áo ấy, mẹ đã rưng rưng không nói nên lời. Tôi không biết diễn tả cảm xúc của ba mẹ lúc ấy  ra sao, nhưng có lẽ trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, con người ta nhận ra thứ tình yêu to lớn vượt trên cả tình yêu đôi lứa mà họ dành cho nhau trong những ngày khói lửa.
 
Những ngày sau, tiểu đội ba tôi di chuyển căn cứ  đến gần chỗ mẹ. Ba và mẹ có thời gian gần nhau hơn và tình yêu của hai người cứ lớn dần theo năm tháng giữa đạn bom ác liệt. Những trận chiến đấu ác liệt, những cơn sốt rét chiến trường, những mùa thay lá qua đi là chứng nhân lịch sử cho tình yêu của ba và mẹ. Vượt lên trên gian khổ, thử thách, ba và mẹ tôi đến với nhau bằng một tình yêu đẹp, trong trẻo như thế.  Đám cưới của ba mẹ không phải là những tiếng nhạc rộn ràng, không phải là pháo nổ, rượu nồng hân hoan mà chỉ  đơn giản là sự chúc phúc của các đồng đội tại đơn vị và sự gửi gắm từ người thân nơi quê nhà. Đơn giản mà to lớn. Tình yêu ấy đơm hoa kết trái để hôm nay anh chị em chúng tôi biết rằng, cần trân trọng thế nào và cần yêu thương ra sao những người đã hiến dâng máu thịt của mình cho non sông, đất nước.
 
Chiến tranh đã lùi xa, mẹ tôi mất đã 20 năm nhưng không khi nào ba nguôi ngoai nỗi nhớ về mẹ. Trong lòng ba, mẹ không chỉ là người phụ nữ ba gửi gắm tình yêu mà còn hơn thế nữa, đó là một thứ tình cảm đặc biệt lớn lao không thể gọi tên.
 
Lâm Hằng
 
 
;