Lê Đình Kiên, người có công mở mang, xây dựng Phố Hiến

Nói đến Phố Hiến là phải kể đến người có công mở mang, xây dựng Phố Hiến. Ông là Lê Đình Kiên (1620-1704), sinh ra ở làng Thiết Đanh, nay thuộc xã Định Tường, huyện Yên Định, tỉnh Thanh hóa trong gia đình nghèo, bố mất sớm, sống với mẹ. Tư chất thông minh, Lê Đình Kiên làm quan dưới thời Lê Trịnh, triều vua Vĩnh Tộ. Ông là vị quan tài năng, đức độ, không những có tài về cai trị mà còn giỏi thương nghiệp ngoại giao, nổi tiếng xử kiện giỏi. 
 
Di tích Đông Đô Quảng Hội (thành phố Hưng Yên)
Di tích Đông Đô Quảng Hội (thành phố Hưng Yên)

Năm Giáp Thìn 1664, khi 44 tuổi, ông làm trấn thủ vùng Sơn Nam (tức vùng Thái Bình, Hưng Yên). Công lớn của ông là dẹp yên được quân Tàu Ô (Ngày xưa người Việt thường gọi những toán cướp biển từ Trung quốc sang là quân (hay giặc) Tàu Ô) và mở mang vùng Phố Hiến, được phong đặc tiến phụ Thượng Tướng quân, trung quân Đô đốc Phủ, Hứa đô đốc thiếu bản, Tước quận công hàm Thái Bảo. Sau khi mất ông được truy tặng Thái Bảo, truy phong phúc thần. Lê Đình Kiên cũng là người  thay mặt nhà Chúa giao thiệp với các thương nhân ngoại quốc đến buôn bán ở Phố Hiến.

Suốt 40 năm ông ở trấn Sơn Nam (từ 1664 - 1704), dân sông yên vui, no đủ. Ông đã dành nhiều tâm sức xây dựng Phố Hiến trở nên sầm uất, nổi danh đương thời “Thứ nhất kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến”.  Lúc ông mất, cả người Việt và người nước ngoài ngụ ở Phố Hiến đều dựng bia ghi công ông. Công lao của Lê Đình Kiên được lưu truyền, khắc ghi qua 2 tấm bia. Nội dung 2 bia cơ bản giống nhau, đều ca ngợi công đức của ông. Bia thứ nhất do nhân dân địa phương dựng năm Thái Bảo 8 (1772). Bia thứ hai do Tài trưởng Hải Nam là Trần Đế Đào, người Hoa dựng năm Bảo Thái 4 (1723). 
Theo nhà nghiên cứu Hoàng Khôi, văn bia của dân địa phương có đoạn  “Ông còn có những cái đáng yêu mến, với người nghĩa phụ thì một lòng kính mộ, từ trước tới sau dạy được thói dân, đức thêm dày dặn hòa với khách phương xa nên Vạn Lai Triều làng ở yên vui, thuế tô khoan nhẹ, tỏ được ơn trên, chung một lòng dân”. Văn bia do Trần Đế Đào soạn năm 1723 có đoạn “Tàu thuyền qua lại thường lấy Vạn Lai Triều làm bến nên từ ngày buôn bán tới nay đã vài mươi năm, vui vẻ nghề nghiệp, kẻ gần thì mừng, người xa thì tới, thảy đều nhớ ơn của Anh linh vương, tiếc đức Thái Bảo họ Lê không biết bao giờ là hết”.
Theo sách Phố Hiến do Tiến sĩ Nguyễn Khắc Hào và tiến sĩ Nguyễn Đình Nhã chủ biên, thời Lê Đình Kiên là Trấn thủ, vùng Sơn Nam trật tự trị an được bảo đảm, tập tục và chủ quyền của người Việt được khẳng định. Điều đáng quý ở Lê Đình Kiên là ông ổn định xã hội, dẹp trộm cướp không chỉ bằng pháp luật mà còn bằng cả tấm lòng bao dung nhân ái. Những người dân trước đây vì đói khổ, loạn lạc phải tha phương cầu thực, ông cho tập trung lại, cho đất lập làng, tạo điều kiện làm ăn sinh sống. Những người Trung Hoa chạy loạn sang Phố Hiến, ông chiêu dụ lại, cấp đất cho làm ăn. Ông khuyến khích nhân dân trồng nhiều nhãn, một loại đặc sản mà Lê Quý Đôn gọi là “vương giả chi quả”, sau này truyền tụng trong câu ca dao, gắn với Hưng Yên:
“Dù ai buôn bắc bán đông
Đố ai quên được nhãn lồng Hưng Yên”
Lê Quý Đôn trong tác phẩm Kiến văn tiểu lục có chép chuyện Lê Đình Kiên xử kiện giỏi. Bọn trộm cướp không dám quấy phá khu vực ông cai quản. Chuyện kể lại rằng khi ông mới ra làm thủ trấn Sơn Nam, ông đã giải quyết một số vụ án trong đó có vụ điều tra xử kiện được truyền tụng khắp vùng: Một tên lái buôn người Hoa thấy vợ người phường chèo xinh đẹp bèn dụ xuống thuyền ca hát, hắn chuốc rượu cho người chồng say khướt rồi đem người vợ giấu đi. Người chồng tỉnh rượu không thấy vợ thì hắn nói vợ anh đã lên bờ từ lâu. Anh chồng tìm mãi không thấy, đến quan nhờ điều tra. Lê Đình Kiên cho bắt ba tên nghi là thủ  phạm, giam mội đứa một nơi, dọa tra tấn chúng, chúng không chịu nhận, ông sai đánh hai tên thật đau, còn tên thứ 3 giam ở xa cho nhìn thấy. Sau đó ông gọi tên kia ra mắng rắng: Bọn kia đã nhận tội rồi, mày còn giấu giếm chối cãi nữa thôi. Vừa nói ông vừa đưa tờ giấy bảo: Đây là lời khai của tên kia, tên này hoảng sợ khai hết sự tình. Tên lái buôn phải cúi đầu nhận tội... 
Ông mất năm 1704, thọ 84 tuổi, nhân dân thương tiếc lập miếu thờ gọi là miếu Anh Linh Vương, miếu này nay không còn. Hiện nay nhà thờ ở làng Thiết Đanh, quê hương Lê Đình Kiên ở Thanh Hóa vẫn còn lưu hai câu đối ca ngợi công đức của ông:
Đại đức tứ dân, danh tại sử
Sinh vi lương tướng tử vi thần
Nghĩa:
Đức ở trong dân, danh lưu sử sách
Sống là ông tướng tốt, chết thành thần
Và:
Trị sự liêm bình, kim cổ đan thanh tuế tích
Tại nhân đức trạch, Bắc Nam kim thạch minh danh
Nghĩa:
Việc cai trị công bằng và liêm chính mãi mãi tiếng ghi sử sách
Đức lớn cho dân cậy, cả Việt Nam lẫn Trung Hoa danh khắc vào đá vàng    
 
PV (tổng hợp)
;