Hàng tre bên Lăng Bác

Tôi sinh ra ở làng Yên Vĩnh một làng quê mang đậm nét văn hóa của đồng bằng Bắc bộ. Làng còn gắn với truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung, một huyền thoại văn hóa tâm linh đã tồn tại qua bao lớp người dân Việt. Song ở đây tôi chỉ đề cập đến góc độ một làng quê đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi và đã dẫn tôi đến ý tưởng trồng hai hàng tre  bên Lăng Bác khi được giao chủ trì thiết kế cây xanh khu vực Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
v
Hàng tre bên Lăng Bác 
Không ai biết tự bao giờ làng tôi đã hình thành một mạng lưới đường vỉa gạch nghiêng mà không nhiều làng có được. Khi tôi lớn lên thì hai bên đường làng đã được các bụi tre nối tiếp nhau che phủ. Đường râm mát đến nỗi những buổi trưa hè đi trên đường không cần đội nón, rất ít chỗ để mặt trời có thể chiếu qua.
 
Khoảng giữa làng tôi  có một ao rộng, quanh bờ  tre  vươn cao, tán rộng  phủ gần kín mặt ao như một khu vườn. Có lẽ do vườn tre um tùm hiếm có mà một đàn cò kéo nhau về trú ngụ, làm tổ và sinh sôi nảy nở. Mỗi khi có động tĩnh nơi bờ tre, tiếng cò như báo nhau có “biến” làm rộn rã một góc làng. Những kỷ niệm sâu sắc của tuổi thơ thường gắn với bóng tre, đường làng, ngõ xóm.
 
Càng lớn tôi càng nhận ra ngay tại nhà mình, làng mình, cây tre quá đỗi thân thiết với cuộc sống của mỗi người, ngôi nhà, che chở cái hè nắng thiêu đốt, chắn cơn bão tố hãi hùng, những trận gió rét cắt cứa da thịt… Chiếc giường tre chào đón con người  từ lúc chào đời đến lúc về cõi vĩnh hằng. Cái cày, cái cuốc, cái gầu tát nước… để làm ra hạt lúa, củ khoai… nuôi sống con người cũng từ cây tre ngoài dậu, ven làng.
Cái đó, cái nơm… để ta bắt con cá, con cua – món thức ăn thường nhật cũng vẫn từ cây tre nhà, tre làng.
 
Làng tôi ở ven đầm nước, dọc theo đê sông Hồng; toàn bộ ruộng đồng nằm gọn một phía. Đầu những năm 1950, giặc Pháp càn quét triền miên. Tôi theo bố đi xem các chú, các bác  rào làng, đào giao thông hào bên trong để chống càn. Những hàng tre bao quanh làng được củng cố thành lũy vững chắc. Nhiều lần giặc vây ráp nhưng không vào nổi, chỉ bắn xối xả vào làng rồi rút về đồn. 
 
Lớn lên tôi được học cấp I trường làng, rồi cấp II trường huyện. Những kiến thức từ các môn văn, sử, địa lý… đã làm phong phú thêm những nhận biết về cây tre gần gũi thân thương. 
 
Cây tre trong văn, trong nhạc, trong phim ảnh… đã mở tầm nhận biết cho tôi - hình ảnh cây tre không  chỉ ở bụi tre đầu ngõ hay ở lũy tre làng mà cây tre mang cả hình ảnh Việt Nam... 
 
Sau ba năm nghiên cứu kiến trúc phong cảnh tại Cu Ba về nước, năm 1973, tôi được Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn (Bộ Xây dựng)  giao chủ trì thiết kế cây xanh khu vực Quảng trường Ba Đình và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Khi được nhận trách nhiệm nặng nề và cũng là vinh dự lớn lao trong cuộc đời và sự nghiệp của mình, chúng tôi hăm hở bước vào công việc. Tôi và nhóm thiết kế  đã xin được vào thăm khu nhà sàn nơi Bác đã làm việc lúc sinh thời. Chúng tôi được bác Vũ Kỳ nguyên là thư ký riêng của Bác Hồ dẫn đi thăm quan giới thiệu các di vật đã gắn bó với Bác Hồ.  Đặc biệt là những cây Bác Hồ từng yêu thích và chăm sóc chu đáo trong khu vườn Bác. Ở đây, chúng tôi nhận ra rằng các cây trong vườn Bác hầu như hội tụ các vùng, miền trong cả nước. Từ đó chúng tôi đi đến một ý tưởng mang tính nguyên tắc là: Cây đưa về trồng ở Quảng trường và Lăng Bác phải mang đậm nét văn hóa, lịch sử truyền thống và đại diện cho các vùng, miền của Việt Nam.
 
Với quy mô, vị trí Lăng Bác đã được xác định và những ý tưởng chủ đạo trên, chúng tôi bước vào nghiên cứu thiết kế. Từ quy hoạch cảnh quan tổng thể khu vực Quảng trường, đến chi tiết cho từng khu vực: Trước, sau, hai bên lăng và các đường chính dẫn vào lăng. Phương án thiết kế đã được lãnh đạo Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn và các chuyên gia về quy hoạch kiến trúc của viện tham gia.
 
Cùng nghiên cứu thiết kế cảnh quan khu vực Quảng trường Ba Đình còn có một số cơ quan như Viện Thiết kế quy hoạch Hà Nội, Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Hội Mỹ thuật Việt Nam, Trường đại học Lâm nghiệp, Công ty công viên Hà Nội …
 
Khoảng cuối năm 1973, tại Văn phòng Chính phủ, Ban phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo về thiết kế cảnh quan khu vực Lăng Bác. Đại diện các cơ quan có mặt đông đủ. Phương án của chúng tôi được trình bày đầu tiên. Sau khi nghe chúng tôi báo cáo, các cơ quan đều thống nhất ý kiến: Phương án của chúng tôi đã đề cập và giải đáp cơ bản những nội dung cần quan tâm. Chỉ bàn thêm phần cây trồng hai bên Lăng. Với tình cảm và nhận thức về cây tre Việt Nam, chúng tôi đề xuất trồng hai hàng tre; Hội Kiến trúc sư đề nghị trồng hai cây đa và ý kiến của Hội Mỹ thuật là trồng hai cây đề. Hai loại cây đa và đề mang đậm nét văn hóa Việt Nam, được ông cha ta lựa chọn trồng ở các công trình văn hóa tâm linh. 
 
Hội nghị không thống nhất ở loại cây nào. Sau hội nghị, chúng tôi hoàn thiện tiếp phương án. Làm mô hình với tỷ lệ lớn; các cây được quấn bằng dây đồng và sợi màu,  từng loại cây được mô tả từ hình dáng đến màu sắc  gần giống với cây thật.
 
 Ít ngày sau đó chúng tôi được báo đem phương án vào xin ý kiến đồng chí Trường Chinh – lúc đó là Chủ tịch Quốc hội. Các đồng chí cảnh vệ dẫn chúng tôi đưa mô hình vào nơi làm việc ngay dưới nhà sàn. Đến sau Phủ Chủ tịch thì tình cờ chúng tôi gặp Thủ tướng Phạm Văn Đồng từ phía nhà sàn đi lại. Thủ tướng hỏi chúng tôi mang gì đi đâu thế này. Tôi trịnh trọng báo cáo Thủ tướng: “Chúng cháu mang mô hình cây xanh khu vực Quảng trường và Lăng Bác vào báo cáo bác Trường Chinh”. Thủ tướng bảo, cho bác xem nào. Chúng tôi hạ mô hình ngay xuống sân sau báo cáo tóm tắt những ý tưởng chính trong thiết kế. Thủ tướng nghe xong gật đầu và nói “Việc này Bộ Chính trị giao anh Trường Chinh, các cháu vào báo cáo và xin ý kiến cụ thể”.
 
Chúng tôi vừa đặt mô hình lên bàn làm việc thì đồng chí Trường Chinh bước vào. Tôi trực tiếp báo cáo ngắn gọn và súc tích với đồng chí về quy hoạch cảnh quan toàn khu vực Quảng trường và sân vườn quanh Lăng Bác; chi tiết bố trí các loại cây trên từng địa điểm đã được thống nhất ở hội nghị chuyên đề về trồng cây. Cuối cùng là những ý kiến còn khác nhau về chọn loại cây trồng hai bên Lăng. Tôi báo cáo cụ thể ba loại cây được đưa ra trong hội thảo là tre, đa và đề. Đồng chí Trường Chinh lắng nghe từng chi tiết. Sau khi tôi trịnh trọng xin ý kiến, đồng chí ân cần nhẹ nhàng nói: “Bác hoàn toàn  nhất trí với các ý kiến đã thống nhất trong hội thảo. Riêng hai bên Lăng, theo bác trồng hai hàng tre là thích hợp nhất. Cây tre tượng trưng cho tinh thần và cốt cách dân tộc Việt Nam ta”. Tôi trân trọng tiếp thu ý kiến của đồng chí. 
 
Chúng tôi về báo cáo lại ý kiến của đồng chí Trường Chinh với Ban phụ trách xây dựng Lăng. Sau đó được giới thiệu về các tỉnh để tìm chọn cây theo phương án thiết kế đã được duyệt.
 
Riêng cây tre được chọn là luồng của tỉnh Thanh Hóa. Nơi có Triệu Thị Chinh cưỡi voi ra trận, có Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến chống nhà Minh giành độc lập dân tộc và nơi có các cụ già bắn rơi máy bay thời chống Mỹ.
 
Hai hàng tre đã hiện diện xanh tươi bên Lăng Bác và Quảng trường Ba Đình lịch sử hơn 40 năm. Hàng tre đã vào thơ ca, mỗi khi nghe mấy đoạn ca từ trong bài hát Viếng Lăng Bác: “Con ở miền Nam ra thăm Lăng Bác, đã thấy trong sương hàng tre bát ngát, Ôi! hàng tre xanh xanh Việt Nam, bão tố mưa sa, đứng thẳng hàng…” lòng tôi lại xao động những điều tôi đã ấp ủ, gửi gắm vào hàng tre đang đứng bên Lăng Bác và những kỷ niệm không thể nào quên trong những năm tháng sôi động đầy vinh dự và tự hào trong sự nghiệp của một kiến trúc sư trên công trường xây dựng Lăng Bác. 
 
KTS. Nguyễn Xuân Thử
Hội viên Hội KTS Việt Nam
 
;