Làng Nôm - Di sản quy hoạch làng Việt

Cái Bống đi chợ Cầu Nôm
Sao mày không rủ cái Tôm đi cùng
Cái Tôm nó giãy đùng đùng
Nó trôi ra bể lấy chồng lái buôn
 
Hẳn nhiều người trong chúng ta biết đến câu ca dao- lời ru nổi tiếng trên, nhưng có lẽ ít ai biết, làng Cầu Nôm - một làng buôn đồng nổi tiếng xưa kia, nằm ở đâu trong muôn ngàn làng quê châu thổ sông Hồng.
Từ Thăng Long - Hà Nội, đi theo Quốc lộ 5 chừng trên dưới 20km, rẽ trái khoảng mươi cây số nữa, ta sẽ gặp làng Cầu Nôm (mà người ta quen gọi tắt là làng Nôm) - nay là thôn Đại Đồng, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Như phần lớn các làng quê đồng bằng Bắc bộ, làng Nôm nằm nép mình yên tĩnh trong một vành đai hào luỹ tre pheo mà ngày nay dấu tích còn rải rác khắp quanh làng, đặc biệt ở phía đông bắc. Ngày 11 tháng giêng - ngày mở đầu lễ hội hàng năm của làng. Tiếng chiêng trống, bát âm nổi lên rộn rã, lan rất xa qua luỹ tre vốn thường nhật trầm lặng.
 
Làng Nôm, xã Đại Đồng (Văn Lâm)

Làng Nôm, xã Đại Đồng (Văn Lâm)

Ảnh: Quốc Nhật

Từ ngày hôm trước, ngôi làng nhỏ bé với trên dưới 150 hộ dân đã bắt đầu xao động bởi lễ “Bao sái”- lễ rước nước từ giếng đá chùa về đình để các bô lão “tắm rửa” cho thánh; bởi những người con của làng làm ăn, lập nghiệp xa quê đã bắt đầu  trở về. 

Đúng 8 giờ sáng 11 tháng giêng, đám rước hội bắt đầu xuất phát từ đình. Đình nằm ở đầu phía bắc làng, trông về hướng nam, thờ thánh Tam Giang- một vị thần có nguồn gốc nước. Sau đình là một quả gò, trên đó mọc một cây đa mà dân làng vẫn thường gọi là cây đa: “Mũ đồng cân”- Một bộ phận của chiếc cân thân thuộc với nghề buôn. Quả gò này cùng với gò Con Bống thấp hơn ở ngoài cổng làng làm thành thế “tiền án hậu chẩm” cho đình làng mà ao đình chính là “minh đường”. Nhìn ra hai bên, xuôi hướng Bắc-Nam, rõ ràng theo lý thuyết phong thuỷ, thế đất làng Nôm khá hoàn hảo với con sông Cái bên trái (Tả Thanh long) và con đường cao bên phải ngoài làng (Hữu Bạch hổ). Không rõ năm dựng đình nhưng các cụ cao niên vẫn nhớ lần trùng tu lớn cách đây chừng trăm năm để lại một kiến trúc đẹp. Vào đầu thế kỷ XXI, tỉnh Hưng Yên đã tôn tạo thêm một số hạng mục cho công trình.
Kiệu, lọng của đoàn người đã ra khỏi tán đa cổ thụ trên dưới 200 năm tuổi ở sân đình, tiến vào trục đường chính của làng. Đây là một con đường gạch nghiêng được lát trước và sau Cách mạng Tháng Tám, rộng chừng 2m, dài chừng 800m bao quanh mặt hồ trước đình. Những con đường như thế này đang được đưa vào “sách đỏ” trước xu thế ào ạt bê tông hoá nông thôn.
Thường ngày, mặt hồ mơ màng in bóng những ngôi nhà thờ họ cổ kính, những hàng rào ô rô biếc xanh  nhưng hôm nay nó đang chênh chao bởi những mái chèo Quan họ. Thường ngày, con đường 2m cũng đủ thênh thang cho sinh hoạt một làng quê thuần nông, nhưng giờ đây nó đang bức bối bởi muôn ngàn bước chân hào khởi và kính cẩn đi theo đoàn rước giá của các lão niên, tráng hạng.
Đi theo đám rước, ta vẫn kịp nhận ra những ngõ xóm yên tĩnh ăn vào đường chính. Mỗi ngôi nhà ở đây toạ lạc trong một vòm cây ăn quả tươi tốt. Nhiều nhà có mảnh ao bên cạnh vườn cây. Bờ ao là dãy chuồng trại với vài luống rau. Trước mỗi nhà là khoảng sân gạch với hàng cau, bể nước. Các khuôn viên được ngăn cách bởi hàng rào cây xanh hoặc tường gạch. Đây là kiểu quy hoạch khuôn viên truyền thống của người dân đồng bằng Bắc bộ, mà sau này người ta phát huy và lý luận hoá nó lên gọi là mô hình VAC. Theo một thống kê, làng Nôm còn gần mười căn nhà có tuổi trên dưới trăm năm và còn 90/150 căn nhà xây theo lối truyền thống. Khu dân cư phát triển khá đều xung quanh mặt hồ dài ở giữa  khiến làng Nôm có hình thù tựa như chiếc thuyền đặt theo hướng Bắc - Nam mà mũi phía Bắc là cây đa mái đình, mũi kia là mái cổng làng- một chiếc cổng trứ danh trong vùng. 
Đám rước lễ hội đang đi qua vòm cổng làng. Quanh năm, người ngoài thường chỉ được chiêm ngưỡng một làng quê Bắc Việt cổ qua cái ngăn cách/giữ giữa trong và ngoài làng: Cổng làng (có điếm canh). Chỉ bây giờ nó mới được rộng mở để cho những bí ẩn sau luỹ tre kia phô diễn trước bàn dân thiên hạ. Nhưng là một sự phô diễn đã cách điệu, được biểu tượng hoá thành lễ hội. Ngày hôm nay, những con người trong một làng, những xóm làng trong một vùng và có thể, cả miền châu thổ sông Hồng xoá bỏ sự khép kín thông lệ giao hoà trong cộng đồng cùng trời đất- thần linh.
Là một trong những điểm nhấn kiến trúc quan trọng trong quy hoạch làng, cùng với đình - đường trục chính, cổng làng cũng trở thành biểu tượng của làng. Chiếc cổng cầu kỳ, khá lớn vào thời điểm ấy (Tương truyền xây dựng vào đầu thế kỷ XIX, trùng tu năm 1915) tất nhiên đã lĩnh hội thấu đáo truyền thống quy hoạch làng người Việt. Cái độc đáo, tinh hoa của người làng Nôm là ở việc đặt vị trí cổng rất đối xứng với ngôi đình qua mặt hồ chính, con đường chính của làng. Chính điều này đã góp phần điều chỉnh một cách tự phát việc phát triển khu dân cư, làm cho nó có xu thế xoay quanh trục đình - hồ (ao đình)- đường chính, tránh một nhược điểm tưởng như cố hữu của làng đồng bằng Bắc bộ: Khu dân cư phát triển lộn xộn, không có hình dáng nhất định. (Phải nói thêm, hình dáng của làng Nôm cũng khá giống hình “con cá chép”- một mô hình “làng phòng thủ” có từ thời Hậu Lê. Và để sự cố kết/giao lưu giữa các xóm(“phòng thủ” và đi lại) thuận tiện hơn, các "nhà quy hoạch" làng Nôm đã cho đắp một con đường cùng cây cầu ngang qua chính giữa con hồ dài giữa làng).   
Ra khỏi cổng, đoàn người rẽ sang hướng đông bắc, đi ngang  khu vực gò Con Bống và ngòi Con Tôm - ngòi thông ao đình với con sông Cái chảy qua ven làng, lưu thông hệ thống nước sinh hoạt trong ao làng, giữ sự “tôn nghiêm” của hướng đình, tận dụng triệt để thế tựa sông ôm hồ của vùng cư dân lúa nước. Quả gò và con ngòi trên đã từng được nhân cách hoá thành cái Bống, cái Tôm trong câu ca mở đầu bài viết. Cái Bống, cái Tôm- những người con gái làng Nôm đôi khi bị ngầm hiểu một cách mặc cảm do những câu ca mang đậm chất nghề nghiệp của làng: 
Đồng nát thì về Cầu Nôm
Con gái nỏ mồm về ở với cha
Hoặc:
Hỡi cô má đỏ hồng hồng
Cô đi lấy chồng cô bỏ quê cha
Đến khi cô trở về già
Quê chồng cô bỏ quê cha cô về
Sự thực con gái làng Nôm xinh đẹp, tháo vát- họ giỏi việc chợ, đảm việc nhà, xứng câu ví: “Gạo nếp cái, gái họ Phùng (một dòng họ trong làng)”. 
Đích tới của đám rước là một điểm nhấn kiến trúc quan trọng khác, đối xứng/đối trọng với đình làng qua cổng làng trên trục đường làng: Chùa làng. Nhưng con đường tới đó phải qua một cây cầu vượt sông Cái- cầu Nôm nổi tiếng, cây cầu đá ngang sông có lẽ là duy nhất còn lại trên đất Hưng Yên. Lần tu tạo gần đây nhất vào khoảng năm 1915 để lại cây cầu rộng chừng 2m với 9 nhịp, đầu 9 cột đỡ ngang có trang trí vân mây. Không rõ cầu dựng năm nào nhưng những cái tên xa xưa của làng: Kiều Tùng, Đồng Cầu rồi Cầu Nôm đã gợi ý rằng cây cầu tự cổ xưa đã gắn bó với làng, trở thành một phần hồn làng. Con sông Cái chảy ven làng, nâng đỡ cây cầu làng cũng chan chứa những truyền thuyết của làng. 
Hội rước đang đi bên gốc cây gạo hàng trăm năm tuổi đầu bên kia cầu để vào chợ. Trong quy hoạch làng Việt cổ đồng bằng Bắc bộ, chợ (và chùa) bao giờ cũng nằm bên ngoài làng. Đó là “đặc khu” mở của một làng Việt luôn có xu hướng phòng thủ, khép kín. Chợ (và chùa) Nôm nằm ở phía Đông Bắc - ngoài/cách làng một con sông. Một vị trí thật lý tưởng thể hiện nguyên tắc quy hoạch truyền thống. Chợ nằm trên bãi đất rộng chừng 2 mẫu Bắc Bộ trước cửa chùa, dưới tán 4 cây cổ thụ (gạo, đa, muỗm); họp tháng 12 phiên, vào các ngày có số cuối là: 1,4,6,9. Xưa kia, chợ là một trong những trung tâm điều tiết nhịp sống của một làng buôn đồng nổi tiếng.  
Chùa Nôm hay còn gọi là chùa Thông (Linh Thông tự), tương truyền dựng trên một đồi thông từ đời Mạc, trùng tu lớn đời Lê, tôn tạo nhiều lần trong đời Nguyễn. Hiện chùa nằm dưới những vòm gạo, muỗm trầm mặc, lưu giữ trong điện hàng trăm pho tượng và di vật cổ. Đây cũng là nơi đặt bát hương thờ Mẫu thánh Tam Giang, điểm cuối của lễ rước sau khi đặt bát hương thờ Mẫu trả lại cung. Đây cũng là nơi gửi phần siêu thoát của đời sống tinh thần người dân trong làng và trong vùng. Nơi cùng với cây đa/quán chợ, bến nước/giếng làng làm thành một trục - những điểm nhấn kiến trúc gắn bó với những người phụ nữ làng quê Việt. 
Bây giờ, kiệu thánh sẽ quay trở lại dưới mái đình - nơi ngày mai lại bắt đầu một vòng quay mới của đời sống thường nhật với những “việc làng, việc xã”. Nhưng "ngày mai", trong luỹ tre làng Nôm vẫn còn không khí trang nghiêm của những đám giỗ họ. Tự cổ truyền, ngay sau hội làng, con cháu các dòng họ đều tụ họp trong ngày giỗ tổ. Hoá ra, chính ở làng Nôm buôn bán giàu có này, truyền thống làng xã nông nghiệp lại càng nổi trội đến mức điển hình. Sau khi kính cẩn dâng nén nhang thơm trước ban thờ tổ tiên, người làng Nôm lại hối hả với vòng xoáy thương trường khắp trong, ngoài nước - “Vì làng có hình con thuyền nên người Cầu Nôm cứ phải đi xa, thật xa…”- họ hay nói như vậy. Nhưng làng quê mà họ cùng bao thế hệ dày công vun đắp thì mãi như con thuyền neo lại bên bến sông Cái giữa châu thổ sông Hồng, trở thành một di - sản - quy - hoạch - làng - người - Việt.
 
Nguyễn Thành Tuấn
 
;