Hưng Yên: Đến năm 2010, hoàn thành và vượt các chỉ tiêu của quốc gia về sức khoẻ và dịch vụ y tế

Sau hơn 2 năm thực hiện Nghị quyết số 02 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên về đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, ngành y tế đã thực hiện nhiều giải pháp để sớm hoàn thành mục tiêu: Phấn đấu đến năm 2010 đạt và vượt các chỉ tiêu của quốc gia về sức khoẻ và dịch vụ y tế; 80% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; giữ vững 100% số trạm xá xã có bác sỹ...

 

Hệ thống y tế công lập trên địa bàn tỉnh Hưng Yên gồm 3 tuyến, tuyến tỉnh có 6 bệnh viện với 930 giường bệnh, các trung tâm và đơn vị trực thuộc; tuyến huyện có 10 trung tâm y tế vừa làm công tác y tế dự phòng vừa làm công tác điều trị với qui mô 750 giường bệnh; 100% số xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã có trạm y tế, trong đó có 120 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế... Hệ thống y tế ngoài công lập hiện có 791 cơ sở hành nghề y dược tư nhân, 3 bệnh viện tư nhân đã được phê duyệt dự án đầu tư, 4 công ty dược phẩm đã và đang triển khai sản xuất trên địa bàn.

Thực hiện Nghị quyết số 02 ngày 7.6.2006 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ Hưng Yên về đẩy mạnh công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới, ngành y tế đã chủ động và tích cực phối hợp với các ngành chức năng, cấp uỷ và chính quyền các địa phương. Ngành y tế đã bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của nghị quyết để xây dựng nhiều kế hoạch và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Nhiều huyện ủy, thị uỷ, đảng bộ cơ sở xã, phường, thị trấn đã tổ chức quán triệt nghị quyết với hình thức đa dạng; thông qua quán triệt và thực hiện nghị quyết nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân nhất là đội ngũ cán bộ y tế được nâng lên, việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân ngày càng đi vào chiều sâu và đạt hiệu quả cao hơn...

Trong thời gian qua, ngành y tế đã thực hiện các giải pháp để củng cố, kiện toàn hệ thống mạng lưới chăm sóc sức khoẻ nhân dân: Đưa vào hoạt động 3 bệnh viện (Bệnh viện tâm thần kinh, Bệnh viện mắt và Bệnh viện đa khoa Phố Nối); thành lập phòng y tế ở tất cả các huyện, thị xã nhằm tăng tăng cường công tác quản lý y tế trên địa bàn; nhiều trạm y tế xã, phường, thị trấn đã được đầu tư xây dựng theo mô hình chuẩn quốc gia... Trong 2 năm qua, công tác y tế dự phòng được thực hiện chủ động và tích cực, phát hiện sớm, xử lý kịp thời có hiệu quả dịch bệnh nên trên địa bàn không xảy ra dịch lớn; công tác phòng chống HIV/AIDS được tăng cường; trang thiết bị ở các cơ sở điều trị được sử dụng hiệu quả, ứng dụng nhiều kỹ thuật mới trong điều trị; các thủ tục hành chính trong khám, chữa bệnh của nhiều cơ sở điều trị bước đầu được cải tiến; thực hiện tốt công tác cung ứng thuốc, vật tư y tế, bảo đảm kịp thời về số lượng và chất lượng, quản lý giá góp phần bình ổn giá thị trường thuốc; tỷ lệ xã đạt chuẩn quốc gia về y tế năm 2007 là 74,53% (chỉ tiêu là 65%), trong đó huyện Kim động có 100% số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế từ năm 2006 v.v... Thông qua thực hiện các giải pháp, chất lượng công tác khám, chữa bệnh ở tất cả các tuyến được nâng lên: Số người bệnh đến khám, chữa bệnh ngày càng tăng, hàng năm tổ chức khám cho trên 400 nghìn lượt người, riêng tuyến xã đạt 0,54 lần/người dân/năm; tổ chức điều trị nội trú cho trên 90 nghìn lượt người, phẫu thuật cho trên 9 nghìn bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh tại các cơ sở điều trị đạt trên 100%, đáp ứng yêu cầu cứu chữa cơ bản tại các tuyến theo phân tuyến của Bộ y tế; thực hiện bảo đảm công bằng trong khám, chữa bệnh, quan tâm đến đối tượng chính sách, người tham gia bảo hiểm y tế; tỷ lệ chuyển tuyến Trung ương điều trị giảm từ 10,1% năm 2005 xuống còn 4,45 % năm 2007...

Chạy thận nhân tạo, loại hình dịch vụ y tế chất lượng cao đang thực hiện tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hưng Yên

 

Ngoài nguồn được đầu tư từ ngân sách, trong 2 năm qua ngành y tế đã tranh thủ các nguồn đầu tư khác và sử dụng có hiệu quả. Trong đó, nhận đầu tư viện trợ gần 1,2 triệu EURO, hỗ trợ từ các chương trình hơn 5 tỷ đồng góp thêm nguồn lực cho công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân. Tiếp nhận sự hỗ trợ của Chính phủ Luxemboug, đã trang bị hệ thống máy tính tới toàn bộ các cơ sở điều trị. Đến nay, phần mềm quản lý bệnh viện, kế toán, báo cáo tai nạn thương tích đang được ứng dụng có hiệu quả, giảm ngày công lao động, báo cáo bảo đảm đầy đủ, kịp thời, chính xác...

Chất lượng đội ngũ cán bộ y tế được bổ sung về số lượng, nâng cao chất lượng, việc sắp xếp cơ bản phù hợp với yêu cầu công tác. Tổng số cán bộ y tế của toàn ngành đến tháng 6.2008 là 2490 người (trong đó, trình độ đại học và trên đại học là 654 người, so với cuối năm 2005 tăng 198 người). Trong 2 năm, toàn ngành đã cử đi học 2 nghiên cứu sinh, 3 bác sỹ chuyên khoa cấp hai, 18 bác sỹ chuyên khoa cấp một, 9 thạc sỹ, 17 bác sỹ, 12 dược sỹ, 32 cử nhân điều dưỡng; cử 145 bác sỹ, điều dưỡng đi học bổ túc chuyên môn tại các bệnh viện tuyến Trung ương, 7 cán bộ theo học các lớp cao cấp lý luận chính trị... Nhìn chung, đội ngũ cán bộ y tế đã được đào tạo về chuyên môn, lý luận chính trị và nghiệp vụ quản lý cơ bản đáp ứng được yêu cầu hiện tại.

Theo báo cáo, đến nay đã có khoảng 19% số người đến khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế ngoài công lập đang hoạt động trên địa bàn đã góp phần giảm tải đáng kể cho các cơ sở y tế công lập. Trong công tác xã hội hoá các hoạt động chăm sóc, nâng cao sức khoẻ nhân dân, thời gian qua các cơ sở y tế đã có nhiều hoạt động liên kết với một số bệnh viện tuyến Trung ương để lắp đặt một số trang thiết bị hiện đại; liên kết với một số trung tâm y học chất lượng cao để tổ chức khám cho người dân ở tuyến cơ sở; triển khai các phòng bệnh có các tiện nghi tối thiểu phục vụ những người bệnh có yêu cầu; đưa một số dịch vụ tiêm vác xin tự nguyện phòng cúm, phòng viêm phổi cho những người dân có nhu cầu...

Ngoài ra, trong thời gian qua, thực hiện Nghị quyết số 02, ngành y tế đã triển khai và thực hiện đạt kết quả cao trong công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ, công tác quản lý nhà nước về y tế, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình. Đáng chú ý là ngành đã tổ chức được 47 đợt kiểm tra 348 cơ sở hành nghề y dược tư nhân, có những biện pháp xử lý kiên quyết đối với 24 trường hợp vi phạm; triển khai phong trào xây dựng Làng văn hoá sức khoẻ và đã có 15 làng được công nhận; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm 2007 là 0,96% (mục tiêu chương trình dân số phát triển của tỉnh đến năm 2010 là dưới 1%); tổng tỷ xuất sinh là 2 con, đạt trước mục tiêu quốc gia 5 năm...

Tuy vậy, đánh giá một cách nghiêm túc, ngành y tế nhìn nhận một số nhiệm vụ, giải pháp đề ra tại Nghị quyết số 02 trong tổ chức thực hiện vẫn còn một số hạn chế : Thiếu bác sỹ và dược sỹ đại học ở các tuyến, nhất là tuyến huyện( tỷ lệ bác sỹ  trong hệ thống công lập cho đến nay mới chỉ đạt 4,1 bác sỹ/vạn dân, chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2010 là 5,5 bác sỹ/vạn dân); Năng lực khám chữa bệnh của các trung tâm y tế tuyến huyện không đồng đều, triển khai các kỹ thuật cao ở các bệnh viện tuyến tỉnh chậm, thực hiện khám chữa bệnh theo tuyến kỹ thuật đạt 65-75% danh mục kỹ thuật của Bộ y tế qui định; Chưa thành lập được các trung tâm y tế dự phòng tuyến huyện; Công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm chưa tốt, tình hình ngộ độc thực phẩm không giảm về số vụ và có nguy cơ tăng số người mắc; Đầu tư cơ sở vật chất cho cải tạo, xây dựng trạm y tế tại một số xã chưa được thực hiện, hiện có 20 trạm y tế xã, phường, thị trấn đã xuống cấp nhưng địa phương chưa có kinh phí để xây dựng; Tỷ lệ sinh và sinh con thứ 3 có xu hướng tăng, có tình trạng mất cân đối giới tính khi sinh…

Trên cơ sở đánh giá những kết quả thực hiện Nghị quyết số 02 của Ban thường vụ Tỉnh uỷ, cùng với đó phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu đề ra trong Chương trình hành động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân giai đoạn 2006-2010 của UBND tỉnh, ngành y tế đề ra 5 giải pháp lớn để thực hiện trong thời gian tới. Trong đó, tập trung vào một số biện pháp như: Kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở theo các qui định hiện hành. Tăng cường đào tạo nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, kỹ thuật bảo đảm thực hiện chuẩn hóa cán bộ đáp ứng với nhu cầu thực tế hiện nay; Tuyên truyền, vận động, giáo dục làm thay đổi nhận thức, hành vi của mỗi người dân về công tác y tế, dân số. Nhân rộng các điển hình tiên tiến, khen thưởng, động viên kịp thời các cá nhân, tập thể làm tốt; Xây dựng và tổ chức triển khai các đề án nhằm nâng cao chất lượng toàn diện trong các lĩnh vực hoạt động như dự phòng, khám chữa bệnh, hậu cần. Thực hiện tốt 4 chương trình y tế: chương trình nhân lực, chương trình kỹ thuật y tế, chương trình kinh tế y tế, chương trình hậu cần y tế; Tăng cường xã hội hoá công tác y tế. Tiếp nhận và triển khai thực hiện có hiệu quả các khoản đầu tư của Chính phủ, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ cho y tế các tuyến. Xây dựng đề án hỗ trợ đầu tư cho các xã khó khăn để xây dựng 100% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia theo qui định của Bộ y tế đến năm 2010; Đẩy mạnh thực hiện qui chế dân chủ, qui chế giao tiếp ứng xử trong toàn ngành. Triển khai, thực hiện tốt qui chế kiểm tra, giám sát của ngành với các đơn vị trong việc quản lý, tổ chức thực hiện các chủ trương chính sách, pháp luật của nhà nước và của ngành v.v...

Hồng Sơn- Ngọc Thính

 

;