Chuyện về những người lính quân y quê Nhãn trên chiến trường

21:14, 29/04/2019

Cùng với nhân dân, chiến sỹ cả nước, những "chiến sỹ áo blouse trắng” quê Nhãn đã góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng lịch sử ngày 30.4.1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trường kỳ đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt.


QUYẾT GIÀNH GIẬT SỰ SỐNG CHO ĐỒNG ĐỘI TỪ TAY TỬ THẦN 


Trong câu chuyện với chúng tôi, cựu chiến binh Đỗ An Ngợi (quê xã Tân Quang, Văn Lâm) kể: Năm 1964, sau khi tốt nghiệp trung học sư phạm, ông nhập ngũ được biên chế vào Sư đoàn 316 - Quân khu Tây bắc và được cử đi học cứu thương rồi sang Lào làm nhiệm vụ. Sau đó, ông tiếp tục được cử đi học y tá.

Ông Đỗ An Ngợi
Ông Đỗ An Ngợi

Năm 1966, ông được điều động vào Đại đội quân y - Mặt trận Tây Nguyên để tham gia cứu thương cho chiến sỹ ngoài mặt trận. Nhiệm vụ của ông là phân loại chiến sỹ bị thương, băng bó sơ cứu rồi chuyển bệnh nhân ra tuyến sau chăm sóc. Ông Ngợi nhớ lại: Thời gian này, chiến sự rất ác liệt. Máy bay Mỹ bay lượn trên bầu trời suốt ngày đêm; pháo, đại bác, bom đạn của địch rền vang khắp nơi. Có lúc cả đại đội địch nhảy dù xuống, những “chiến sỹ áo blouse trắng” như ông đã phối hợp cùng bộ đội ta đánh trực diện quân địch để chúng phải rút lui. Buông tay súng, ông lại cùng các y, bác sỹ dìu những chiến sỹ bị thương vào hầm để băng bó, cứu chữa.


Khi được hỏi về những kỷ niệm trong cuộc đời binh nghiệp, về những trận đánh, những lần giành giật sự sống cho đồng đội từ tay tử thần, cựu chiến binh Đỗ An Ngợi trầm ngâm: Ngày đó, cuối năm 1967, tại Đắc Tô - Kon Tum, ông được phân công đi phối thuộc cùng tiểu đoàn bộ binh chiến đấu. Trên bầu trời, từng loạt bom của địch liên tục trút xuống. Quân ta rất kiên cường, bắn trả liên hồi, tiêu diệt nhiều tên địch. Lúc này, tôi đang ở trong hầm cấp cứu cho một số chiến sỹ vừa bị thương, nghe tiếng tiểu đoàn trưởng Nguyễn Quang Thi và cũng là người cùng quê Tân Quang của tôi hô: - Đồng chí Ngợi lên cấp cứu cho chiến sỹ ta vừa bị thương. 


Tuy nhiên, tiếng hô vừa dứt thì loạt bom của địch lại dội xuống đầu. Đất cát bắn tung khắp nơi. Dứt loạt bom, lấy lại tinh thần, tôi bới cửa hầm bò ra. Tuy nhiên, cảnh tượng trước mắt tôi chỉ có cành cây và những hố sâu lởm chởm. Không thấy tiểu đoàn trưởng và đồng đội đâu.


Dù đã được tôi luyện, thử thách, nhưng trước sự tổn thất này, nước mắt cứ trào rơi, bởi cả tiểu đoàn lúc này chỉ còn lại tôi và 6 đồng đội sống sót sau loạt bom đạn điên cuồng của kẻ thù. Lau giọt nước mắt trực rơi trên khóe mắt, ông Ngợi tiếp tục kể cho chúng tôi nghe nhiều kỷ niệm của ông cũng như sự can trường của Bộ đội Cụ Hồ kiên trung, bất khuất.


Ông kể, có một lần cấp cứu cho một chiến sỹ tên là Toán, quê ở Thái Bình. Người chiến sỹ ấy bị thương ở cánh tay, phải phẫu thuật cắt bỏ cánh tay mới giữ được sự sống, trong khi thuốc gây tê giảm đau của đội cứu thương đã hết. Đội thông báo cho chiến sỹ Toán biết cuộc phẫu thuật cắt bỏ cánh tay cần phải thực hiện ngay và không có thuốc gây tê. Người chiến sỹ đó gật đầu dứt khoát.


Đội cứu thương thực hiện cuộc phẫu thuật với lòng xót xa vì biết đồng đội mình sẽ vô cùng đau đớn. Tuy nhiên, người chiến sỹ ấy đã can trường vượt qua nỗi đau về thể xác, động viên các y, bác sỹ hoàn thành ca phẫu thuật. Với sự can trường đó dường như đã tiếp thêm sức mạnh, y đức cho ông và đồng đội thực hiện tốt nhiệm vụ không chỉ trong ca phẫu thuật đó mà cho cả cuộc đời hành nghề y của mình dù trong chiến trường hay trong thời bình.


NGƯỜI CHIẾN SỸ ÁO BLOUSE TRẮNG ĐI QUA HAI CUỘC CHIẾN TRANH 


Trong ngôi nhà nhỏ tại xã Dị Chế (Tiên Lữ), thiếu tá Bùi Văn Sơ bồi hồi khi chạm tay vào những tấm huy hiệu, huy chương được Đảng và Nhà nước trao tặng ghi công những đóng góp của ông trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Ông Bùi Văn Sơ
Ông Bùi Văn Sơ

Rót chén trà nóng mời chúng tôi, ông tâm sự: Năm 1952, khi ấy ông chưa đầy 17 tuổi đã tham gia du kích ở địa phương. Thấy ông nhanh nhẹn, Ủy ban kháng chiến xã Phan Tây Hồ (nay là xã Trung Dũng và xã Lệ Xá, huyện Tiên Lữ) cử ông đi học lớp cứu thương để về cứu chữa cho bộ đội, dân quân du kích và nhân dân ở địa phương. Đầu năm 1954, ông nhập ngũ tham gia phục vụ chiến đấu trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau đó ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Năm 1959, ông phục viên về làm trạm trưởng trạm y tế xã Trung Dũng. Năm 1965, nghe theo tiếng gọi của non sông, ông tái ngũ, biên chế vào Trung đoàn 120 thuộc Quân khu Bốn. Nhiệm vụ của ông cùng đồng đội là đánh quân biệt kích, tiễu phỉ để bảo vệ đường 559 được thông suốt.


Tuy nhiên, đây là tuyến đường huyết mạch vận chuyển lương thực, vũ khí nên bị địch đánh bom liên tục. Do đó, chiến sỹ ta bị thương rất nhiều. Trong khi lực lượng làm công tác cứu thương mỏng nên không kịp sơ cứu ban đầu cho chiến sỹ. Những lúc như thế, ông buông tay súng dùng tất cả những gì có thể để băng bó, cầm máu cho người bị thương. Khi biết ông là y tá, đơn vị đã cử ông vào đội cứu thương của đơn vị làm nhiệm vụ sơ cứu, phân loại và đưa chiến sỹ về tuyến sau để chăm sóc. Sau đó ông tiếp tục được cử đi học làm y sỹ. Ông kể: Ngày đó, bom đạn ác liệt lắm, có những hôm pháo đạn bắn vào đơn vị hành quân, đóng quân của ta nên quân ta bị thương nhiều. Những lúc như thế, ông cùng đồng đội cấp cứu cho đồng đội cả ngày lẫn đêm. Rồi có những lần lương thực cạn, ông và đồng đội chia từng mẩu lương khô cho chiến sỹ bị thương với mong muốn tất cả được bình an.


Có những kỷ niệm đau thương vẫn còn in đậm trong tâm trí mỗi khi nhớ về đồng đội. Ông kể: Có một lần, quân ta bị địch phục kích, do đó số chiến sỹ hy sinh rất nhiều. Có 45 chiến sỹ bị thương được đưa vào đội cứu thương của ông vào buổi chiều tối. Ông và 2 y tá thức cả đêm căng mình băng bó, cấp cứu cho từng người. Tuy nhiên, do vết thương quá nặng, sáng hôm sau, 42 người trong số đó đã hy sinh... Đầu năm 1975, do sức ép của bom đạn, ông được đưa ra Bắc an dưỡng, sau đó ông được phân công về công tác tại Huyện đội Phù Tiên cho đến năm 1987 ông nghỉ hưu.


CAN TRƯỜNG TRÊN MẶT TRẬN, TRÁCH NHIỆM VỚI NHÂN DÂN 


Cứ mỗi dịp cả nước kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30.4 thì những thước phim về một thời chiến đấu, phục vụ chiến đấu và cứu thương trong làn bom đạn giữa rừng Trường Sơn lại dội về trong tâm trí người đại úy già Trần Đăng Giang, quê xã Trung Dũng (Tiên Lữ).

Ông Trần Đăng Giang
Ông Trần Đăng Giang


Đầu năm 1962, thanh niên Trần Đăng Giang khoác ba lô lên đường nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi. Sau 3 tháng huấn luyện, ông được cử đi học làm y tá tại Bộ Tư lệnh Pháo binh, sau đó được biên chế về Trung đoàn 353, Quân khu Bốn. Ông tiếp tục được cử đi học làm y sỹ rồi được bổ sung vào khoa ngoại của Đoàn 559. Năm 1969, ông được đơn vị phân công làm đội trưởng đội phẫu thuật tiền phương của Trung đoàn 968...


Dù ở đơn vị nào, người “chiến sỹ áo blue trắng” cũng luôn đem hết sức lực, tâm trí, sự nhanh nhẹn, sáng tạo để cứu chữa cho chiến sỹ bị thương. Ông kể: Đội của ông có 4 y sỹ và y tá. Trung bình mỗi ngày, ông và đồng đội cấp cứu, phẫu thuật cho từ 5 - 10 người, tuy nhiên có hôm, đội tiếp nhận từ 30 - 40 chiến sỹ bị thương. Hầu hết những người được chuyển đến đội của ông đều bị thương nặng, do đó ông và đồng đội thức thâu đêm làm nhiệm vụ. Những ca cứu thương, phẫu thuật được thực hiện ngay trên những tấm nilon trải xuống đất, thậm chí có hôm phải trải lá rừng cho bệnh nhân nằm. Do là đội phẫu thuật tiền phương nên nhiều khi đội phải di chuyển. Những lúc như thế, mỗi người phải khuân vác theo dụng cụ, vật tư. Tổng trọng lượng khuân vác đôi khi nặng hơn cả cân nặng bản thân mình. Ấy vậy, nhưng khi được thông báo có chiến sỹ bị thương rất nặng cần phẫu thuật sớm thì dường như mỗi chiến sỹ quên hết nặng nhọc, phăng phăng tiến về phía trước. Không chỉ làm nhiệm vụ cứu thương, nhiều khi ông cũng trực tiếp cầm súng chiến đấu. Ông kể, có lần chiến đấu tại thị trấn Xalavan ở Thượng Lào, quân của ta bị địch bao vây trên ngọn đồi. Dù không có lương thực để ăn, không có nước để uống nhưng ông cùng các đồng đội không hề nao núng, kiên cường bắn trả. Hai bên giằng co nhau 3 ngày 3 đêm. Sau đó, quân ta được chi viện mở đường và rút lui an toàn.

Năm 1970, do bị sức ép của bom nên ông đã được đưa ra Bắc dưỡng thương rồi chuyển về công tác tại Bộ CHQS tỉnh. Năm 1985, ông nghỉ hưu. Trở về quê hương, phát huy phẩm chất của Bộ đội Cụ Hồ, ông Giang hăng hái tham gia công tác ở địa phương. Nhiều năm liền ông được tin tưởng bầu làm trưởng thôn, bí thư chi bộ. Ở vị trí nào, ông Trần Đăng Giang cũng nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được cán bộ, đảng viên và nhân dân ở địa phương tin yêu, mến phục.

 

Phương Minh
 



Nội dung:




Giá vàng 9999 tr.đ/lượng

Doji TienPhongBank

Tỷ giá ĐVT:đồng

Loại Mua Bán
BIDV
OCB Kỳ hạn (tháng)